Lý do thứ tư là
đi học bị ảnh hưồng đến thu nhập. Đây là một thực tế phổ biến, thậm chí đây là
lý do quan trọng nhất đối với nhóm lao động nữ có thu nhập thấp và rất thấp (dưới
100.000 đ/tháng, thời điểm 1992-1993). Quy định giữ nguyên lương và các khoản
phụ cấp đôi vói phụ nữ trong thòi gian đi học thực ra ít có ý nghĩa. Hầu hết
nhóm lao động nữ này đều làm thêm kinh tế gia đình để tăng thu nhập. Việc đi học
của các chị ngay lập tức sẽ làm cho ngân sách gia đình rơi vào tình trạng thâm
hụt không thể bù đắp.
Những
vấn đề nêu trên của người lao động nữ cho thấy
trên thực tế, cơ hội đi học của phụ nữ là ít hơn so với nam giới. Ngay cả khi
quy chế, chính sách đã có những ưu tiên nhất định hoặc đảm bảo hoàn toàn bình đẳng
giưã hai giới, thì trong cuộc sông vẫn có nhiều yếu tố không thuận lợi đốì với
lao động nữ. Chính vì lý do này mà nhiều phụ nữ đã không thực hiện được nguyện
vọng học tập của mình.
Để khắc phục những
trở ngại và khó khăn đối với phụ nữ, cần có một nhận thức sâu sắc hơn của Nhà
nước các cấp quản lý và sự phôi hợp chặt chẽ
hơn của Công đoàn, nữ công và gia đình. Để động viên, khuyên khích phụ nữ học tập,
bồi dưỡng thì ngoài các chính sách chung, còn cần cụ thể hoá các điều kiện và
các hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác nhau.
Ngày
nay con đường đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp cho người
phụ nữ có thể diễn ra theo nhiều cách như: chỉnh .qui - phi chính qui; nhà nước
- tư nhân; dài hạn - ngắn hạn; đào tạo tập trung - đào tạo từ xa; sinh hoạt hội
nghề nghiệp; tự đào tạo, bồi dưỡng V.V..
Trong cơ
chế kinh tế mới, xu hướng đào tạo và đào tạo lại theo các con đường phi chính
quy, phi tập trung sẽ tăng lên. Các hình thức này có thể đóng vai trò quyết định
trong việc nâng cao kiến thức của người phụ nữ nhất là phụ nữ nông dân và đào tạo
tay nghề cho lao động trẻ. Ví dụ, do sớm phát hiện thấy có gần 80% thanh niên
đăng ký tìm việc làm chưa có tay nghề, Trung tâm xúc tiến việc làm thanh niên ở
Hà Nội đã tổ chức nhiều khoá đào tạo ngắn hạn cho họ. Các lóp học nghề may thu
hút tới 46,2% sốthanh niên đăng ký tìm việc, trong số đó có tới 80% là nữ. Nghề
nấu ăn 23,5%, nghiệp vụ khách sạn, nhà hàng 18,6% và các nghề cơ khí, điện tử,
sửa chữa xe máy 11,7% (Mai Trang, 1995) . Vì vậy sự quan tâm về các mặt của các
đơn vị, tổ chức nơi phụ nữ làm việc và của Nhà nước, xã hội, các đoàn thể quần
chúng để cụ thể hoá các chính sách và đưa ra các biện pháp hỗ trợ cụ thể là rất cần thiết.
(Tiếp phần
sau…..)
Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/09/phu-nu-voi-suc-khoe-hoc-van-va-trinh-o_40.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữ, phụ nữ và gia đình
Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/09/phu-nu-voi-suc-khoe-hoc-van-va-trinh-o_40.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữ, phụ nữ và gia đình
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét