Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P25 - hết)

Thứ nhất, sức khoẻ, học vấn và trình độ chuyên môn của phụ nữ nói riêng và xã hội nói chung là vấn đề xã hội mang ý nghĩa kinh tế sâu sắc và vấn đề kinh tế có tác động xã hội lâu dài. Vấn đề không chỉ là làm thế nào để khai thác có hiệu qủa nguồn nhân lực hiện có mà còn là bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực đó cho mai sau. xử lý tốt mối tương quan giữa trước mắt và lâu dài, giữa kinh tế và xã hội là những thách thức to lớn trước việc hoạch định các chính sách cụ thể về sức khoẻ, học vấn và trình độ chuyên môn của phụ nữ. Trong vấn đề này, cần nhận rõ và ý thức đầy đủ những tác động, ảnh hưởng tiêu cực và cái giá có thể phải trả trong tương lai đối với sức khoẻ của nhiều thế hệ cả về khía cạnh vật chất và tinh thần để có những giải pháp phù hợp vói điều kiện hiện nay về bảo vệ sức khoẻ và năng cao trình độ học vấn, chuyên môn cho phụ nữ.
Thứ hai, xã hội có thể công bằng và văn minh ngay trong quá trình xây dựng và phát triển của mình bằng cách không ngừng tạo điểu kiện cho việc chăm sóc sức khoẻ, học vấn và trình độ chuyên môn của các nhóm phụ nữ, và người dân nói chung. Làm như vậy là xây dựng một cơ sở hạ tầng xã hội thích hợp cho phát triển kinh tế bền vững ngay từ giai đoạn đầu đồng thời phát huy được nhân tố con người, nguồn lực quan trọng hàng đầu hiện nay trong phát triển.
Cuối cùng, với cách đặt vấn đề nêu trên, bằng các số liệu khách quan, chương bổn đã cô" gắng phân tích nhằm chỉ ra những vấn đề cần sớm được quan tâm, khắc phục trong quá trình đổi mới kinh tế xã hội. Những thành tựu căn bản đạt được về y tế, giáo dục và đào tạo, cùng với nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của vấn đề này đối với phụ nữ, đồng thời không bỏ qua những khó khăn hiện nay là cơ sở và tiền đề vững tin cho việc giải quyết những vấn đề vể điều kiện lao động, môi trường sống và học tập bồi dưỡng của lực lượng lao động nữ.




Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P24)

Tóm lại, mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực trong việc nâng cao trình độ học vấn, tay nghề của lao động nữ song công tác này đang đứng trước những thách thức to lớn của cơ chế thị trường. Việc nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và đầu tư cao hơn cho sự nghiệp nâng cao trình độ dân trí nói chung và học vấn tay nghề của phụ nữ nói riêng là vấn đề mấu chốt hiện nay. Bằng cách kiên trì thực hiện quốc sách giáo dục và đào tạo như vậy mới có thể sớm nâng cao địa vị phụ nữ và tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vững đất nước.
Để kết luận chương này, có thể mượn câu "vì lợi ích trăm năm trông người". Trong trường hợp này chúng tôi muôn nói sức khoẻ và đào tao cho phu nữ nvì lơi ích trăm năm trồng người”
Các nhà giáo dục, khoa học xã hội và các nhà làm chiến lược kinh tế xã hội đều biết câu nói: nhìn vào trẻ em biết tương lai của một dân tộc. Nhưng rất ít người biết rằng nhìn vào sức khoẻ, học vấn và trình độ chuyên môn của phụ nữ ta có thể biết cả hiện tại, tương lai và quá khứ của một quôc gia. Chính vì vậy mà phần trình bày ở chương bôn đã đi theo hướng nhấn mạnh nội dung sâu xa của nhận định vừa có tính chiến lược vừa thiết thực, cụ thể nêu trên.
Đối với mỗi cá nhân, sức khoẻ, học vấn và trình độ chuyên môn không chỉ là phương tiện mà còn là mục đích vì "sức khoẻ là hạnh phúc", "tri thức là sức mạnh" về cả phương diện vật chất và tinh thần. Nhưng thật là nghịch lý, mỗi cá nhân chỉ thực sự chăm lo tới sức khoẻ của mình khi thấy trong người "có gì đó không ổn". Và việc học tập, trong nhiều trường hợp, phải lùi lại sau nhu cầu tồn tại thường ngày. Để hạn chế những nghịch lý có thể diễn ra cấp vi mô, các nhà hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội cần nắm chắc và kiên trì vận dụng quan điểm tổng hợp và toàn diện hơn về vấn đề sức khoẻ, học vấn và trình độ chuyên môn đối với phụ nữ. Quan điểm này đã được thể hiện ở phần trình bày của chương bốn trên những khía cạnh cơ bản sau đây.

Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P23)

Lý do thứ tư là đi học bị ảnh hưồng đến thu nhập. Đây là một thực tế phổ biến, thậm chí đây là lý do quan trọng nhất đối với nhóm lao động nữ có thu nhập thấp và rất thấp (dưới 100.000 đ/tháng, thời điểm 1992-1993). Quy định giữ nguyên lương và các khoản phụ cấp đôi vói phụ nữ trong thòi gian đi học thực ra ít có ý nghĩa. Hầu hết nhóm lao động nữ này đều làm thêm kinh tế gia đình để tăng thu nhập. Việc đi học của các chị ngay lập tức sẽ làm cho ngân sách gia đình rơi vào tình trạng thâm hụt không thể bù đắp.

Những vấn đề nêu trên của người lao động nữ cho thấy trên thực tế, cơ hội đi học của phụ nữ là ít hơn so với nam giới. Ngay cả khi quy chế, chính sách đã có những ưu tiên nhất định hoặc đảm bảo hoàn toàn bình đẳng giưã hai giới, thì trong cuộc sông vẫn có nhiều yếu tố không thuận lợi đốì với lao động nữ. Chính vì lý do này mà nhiều phụ nữ đã không thực hiện được nguyện vọng học tập của mình.
Để khắc phục những trở ngại và khó khăn đối với phụ nữ, cần có một nhận thức sâu sắc hơn của Nhà nước các cấp quản lý và sự phôi hợp chặt chẽ hơn của Công đoàn, nữ công và gia đình. Để động viên, khuyên khích phụ nữ học tập, bồi dưỡng thì ngoài các chính sách chung, còn cần cụ thể hoá các điều kiện và các hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác nhau.
Ngày nay con đường đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp cho người phụ nữ có thể diễn ra theo nhiều cách như: chỉnh .qui - phi chính qui; nhà nước - tư nhân; dài hạn - ngắn hạn; đào tạo tập trung - đào tạo từ xa; sinh hoạt hội nghề nghiệp; tự đào tạo, bồi dưỡng V.V..
Trong cơ chế kinh tế mới, xu hướng đào tạo và đào tạo lại theo các con đường phi chính quy, phi tập trung sẽ tăng lên. Các hình thức này có thể đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao kiến thức của người phụ nữ nhất là phụ nữ nông dân và đào tạo tay nghề cho lao động trẻ. Ví dụ, do sớm phát hiện thấy có gần 80% thanh niên đăng ký tìm việc làm chưa có tay nghề, Trung tâm xúc tiến việc làm thanh niên ở Hà Nội đã tổ chức nhiều khoá đào tạo ngắn hạn cho họ. Các lóp học nghề may thu hút tới 46,2% sốthanh niên đăng ký tìm việc, trong số đó có tới 80% là nữ. Nghề nấu ăn 23,5%, nghiệp vụ khách sạn, nhà hàng 18,6% và các nghề cơ khí, điện tử, sửa chữa xe máy 11,7% (Mai Trang, 1995) . Vì vậy sự quan tâm về các mặt của các đơn vị, tổ chức nơi phụ nữ làm việc và của Nhà nước, xã hội, các đoàn thể quần chúng để cụ thể hoá các chính sách và đưa ra các biện pháp hỗ trợ cụ thể là rất cần thiết.

(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/09/phu-nu-voi-suc-khoe-hoc-van-va-trinh-o_40.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữphụ nữ và gia đình

Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P22)

Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp của Việt Nam, hệ số cơ giới hoá mới chỉ đạt khoảng 50%, hệ số đổi mói công nghệ là 8 - 10% ( Nghiêm Quý Hào, 1995 )( ) . Trình độ kỹ thuật, công nghệ thấp như vậy khó có thể kích thích ngứời lao động nâng cao chuyên môn, tay nghề. Cần thấy rằng với mặt bằng trình độ cơ khí hoá lao động xã hội còn thấp như hiện nay thì vấn đề có tính chất chiến lược là đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nâng cao hàm lượng tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ sẽ tạo ra nhu cầu khách quan đôi với việc nâng cao trình độ, tay nghề phụ nữ.
Lý do thứ hai là về tuổi, cần thấy rằng, trừ các lớp đào tạo dài hạn ví dụ như đại học tại chức, hầu hêt các lớp đào tạo bồi dưỡng khác không hạn chế tuổi của người đi học. Do đó, lý do tuổi được nêu ra ở đây thường là trở ngại vế mặt tâm lý. Phụ nữ cảm nhận và cho rằng mình không có đủ những yếu tố gắn liền với tuổi trẻ như sức khoẻ và sự nhạy bén để tiếp tục học tập. Điều này thực ra không phụ thuộc vào số tuổi thực tế. Chẳng hạn vì lý do tâm lý này mà nhiều phụ nữ mói ở tuổi 40 đã tự cho là già không muôn đi học.
Ngoài ra ở đây còn có một thực tế khác là tuổi về hưu của nữ theo qui định là sớm hơn nam 5 tuổi ( nữ 55, nam 60 ). Như vậy, so với nam giới, tuổi có thể chấp nhận để đi học của phụ nữ thấp hơn so với nam ít nhất là 5 năm. Nếu tính cả thời gian sinh con (hai con, cần từ 6 đến 10 năm) , thì cơ hội đi học của phụ nữ xét riêng về yêu tô thời gian là ít hơn so với nam giới khoảng 40 - 50%.
Lý do thứ ba là hoàn cảnh gia đình. Đây là một lý do tổng hợp. Có thể đó là sự thiếu ủng hộ của chồng và gánh nặng chăm sóc con cái, nhất là khi con đang ở thời kỳ cần có sự quan tâm đặc biệt của người mẹ. Có thể là trách nhiệm nặng nề đối với cha mẹ hoặc là các công việc cấp bách khác trong gia đình V.V..
Tính chất phức tạp và đa dạng của hoàn cảnh gia đình làm cho người phụ nữ luôn cảm thấy thực sự khó khăn trong việc lựa chọn và quyết 'định đi học. Thực tế cho thấy, không ít phụ nữ đã chấp nhận việc không tham gia các khoá đào tạo bồi dưỡng để ở nhà giúp chồng, con và người thân ăn học, hoặc đơn giản hơn chỉ vì không tìm được khả năng tổ chức nào khác cho việc nội trợ và nuôi dưỡng các thành viên gia đình.

(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/09/phu-nu-voi-suc-khoe-hoc-van-va-trinh-o_87.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: phu nu va gia dinh, tin phụ nữ

Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P19)

Sư quan tâm của các nhà quẫn lý đối với viêc đào tao, bổi dường lao động nữ, Trong mỗi cơ quan, xí nghiệp, việc nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động phụ thuộc rất nhiều vào chính sách đào tạo và mức độ quan tâm của người quản lý. Vấn đề này càng trở nên quan trọng hơn đối với lao động nữ.
Khảo sát vấn đề này ở các khu vực kinh tế, có thể thấy sự khác biệt lớn giưã kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh. Tại các cơ sở ngoài quốc doanh, công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, tay nghề cho lao động nữ rất ít được quan tâm. Theo một điều tra về doanh nghiệp thì trong khi có tới 71,4% cán bộ quản lý ở khu vực nhà nước thường xuyên quan tâm việc đào tạo thì ở khu vực ngoài quôc doanh chỉ có 17% ( Bảng 4.13 ).
Bảng 4.13 : Mức độ quan tâm của các nhà quản lý đến việc đào tạo, bồi dưỡng lao động nữ, %

Thường
xuyên
Đôi
khi
Không bao giờ
Quốc doanh
71,4
23,6
5,0
Ngoài quốc doanh
17
48
35

Nguồn : Điều tra doanh nghiệp năm 1993 tại Hà Nội.
Các cơ quan, xí nghiệp nhà nước vôn coi trọng và thực hiện có hệ thông công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực. Tuy nhiên, công tác này trong những năm gần đây thực hiện còn chậm, nhất là so với yêu cầu. Chuyển sang cơ chế hạch toán kinh tế, vấn đề chất lượng, hiệu quả đào tạo đã được chú trọng hơn. Mặc dù vậy, rõ ràng ở đây không thể bỏ qua vấn đề số lượng và phạm vi đào tạo khi số lao động có chuyên môn trong các ngành kinh tế mới đạt khoảng 10%.
Bên cạnh những vấn đề chung, việc nâng cao trình độ tay nghề đối với lao động nữ có những khó khăn riêng mà không phải tất cả các đơn vị đã ý thức đầy đủ. Ví dụ, ở một số cơ quan, đã có những quy định trợ cấp tiền đi đưòng, tiền mua tài liệu, sinh hoạt phí v.v..để khuyến khích cán bộ đi học. Tuy nhiên, so với nam giới, số phụ nữ được cử đi học ở tất cả các trình độ và tất cả cơ quan, đơn vị đều thấp hơn từ 30 đến 60%. Rõ ràng là việc đào tạo Ĩ1Ũ cán bộ, nhân viên ở nhiều cơ quan chưa được xem xét một cách cụ thể, chưa có kế hoạch phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của giới nữ mà mới dừng ]ại ở những quy định chung.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữ, phu nu gia dinh, phụ nữ và gia đình, phu nu va gia dinh, tin phụ nữ, sức khỏe và đời sống phụ nữ

Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P21)

Rõ ràng mức sống hay thu nhập là quan trọng song không phải là yếu tố duy nhất có tác động đến nguyện vọng học tập của phụ nữ. Để thấy rõ hơn điều này, hãy xem vì sao mà nhóm phụ nữ còn lại, chiếm 35% số người trả lời đã tỏ ra đắn đo trước việc bày tỏ nguyện vọng học tập. Có bốn lý do chính thường được đề cập đến như sau : không thấy cần thiết, do tuổi cao, do hoàn cảnh gia đình và lo ảnh hưởng đến thu nhập. Điều này rất đáng quan tâm vì đây cũng là những nguyên nhân thường được phụ nữ nông dân và nữ công nhân khu vực ngoài quốc doanh nêu ra khi nói về việc bồi dứõng nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn. Hãy xem xét từng lý do.
Đứng đầu trong những lý do này là hiện tượng một số phụ nữ thấy việc học tập là không cần thiết. Vì sao lại có hiện, tượng này? Rõ ràng là trình độ chuyên môn, tay nghề của lao động nữ còn nhiều hạn chế trong khi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những yêu cầu cao về kỹ năng nghề nghiệp. Có thể giải thích nghịch lý này như thế nào?
Một trong những câu trả lời đáng tin cậy là việc đào tạo và bồi dưỡng chưa mang lại lợi ích thiêt thực và cụ thể cho người học. Thực vậy, liệu sau khi đào tạo và bồi dưỡng thì cơ hội tăng lương, hay cơ hội tìm hoặc chuyển đổi việc làm có tăng lên không ? Liệu nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề có phải là yêu cầu cấp thiết không? Hãy xem những người đã dự các khoá đào tạo và bồi dưỡng trả lời câu hỏi " thu nhập của chị có tăng lên không? Kết quả cho thấy chỉ có 32,3% số người được hỏi cho là có tăng, 58,1% cho là vẫn thế và 9,6% kém đi. Như vậy có tới gần 70% số người không nhìn thấy hiệu quả thiết thực của việc đào tạo thềm.
Mặc dù là chế độ tiền lương, tiền công không phải lúc nào cũng gắn với việc bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ. Tuy nhiên, trong bốì cảnh đòi sông kinh tế của phần đông người lao động còn nhiều khó khăn thì việc tính toán hiệu quả học tập từ phía cá nhân là một yêu cầu thực tế. Vì vậy vấn đề đặt ra không chỉ ở việc nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo và giáo dục nghề nghiệp , mà còn ở việc nâng cao trình độ công nghệ của lao động
và sản xuất.
Vấn đề này đang đặt ra hết sức cấp bách không chỉ trong ngành công nghiệp mà ngay đôi với nông nghiệp. Lấy ví dụ, việc giải phóng sức lao động trong nông nghiệp không làm tăng tốc độ cơ giới hoá mà trái lại, sức kéo trâu bò và sức người lại tăng lên. Trong vòng 4 năm, từ 1989-1993, số trâu bò của các hộ tăng 5 triệu con lên 6,4 triệu con, công cụ thô sơ dùng sức người và sức súc vật tăng từ 80 triệu chiếc lên 90 triệu chiếc. Tỷ lệ cơ giới hoá khâu làm đất giảm từ 22,6% diện tích gieo trồng (1,8 triệu ha) năm 1987 xuống 21% năm 1990 (1,6 triệu ha),  miền núi tỷ lệ này giảm từ 2,9% diện tích gieo trồng xuống 0,6%, ở trung du từ 7,9% xuống 2,1%, đồng bằng sông Hồng 34,9% xuống 21%, miền Trung 14,7% xuống 7,2%. ở một số vùng miền Nam, mức độ cơ giới hoá giảm chậm, từ 24-25% xuống 22%. Nhưng ở đồng bằng sông Cửu Long lại tăng tới 35% (Nguyễn Điền, 1993, tài liệu đã dẫn).

(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại:



Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P20)

Khu vực ngoài quôc doanh tỏ ra có ưu thê trong việc lựa chọn, tuyển dụng lao động thích hợp với ngành nghề. Tuy nhiên, các nhà doanh nghiệp tư nhân cho đến nay chủ yếu tập trung khai thác tay nghề sẵn có ở người lao động. Bản thân người lao động thường phải tự đầu tư để đào tạo và nâng cao tay nghề. Chiến thuật "hớt váng” này có thể có lợi trước mắt song về lâu dài, muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt rõ ràng khu vực ngoài quốc doanh cần có kế hoạch đầu tư cao hơn cho phát triển nguồn nhân lực, trong đó đặc biệt là nguồn lao động nữ vì họ chiếm số đông trong khu vực kinh tế này.
Nhu cầu hoc tap của lao đông nữ. Vấn đề đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn đốỉ với phụ nữ không đơn giản chỉ là ý muôn học tập. Mặc dù nguyện vọng học tập là yêu tô hàng đầu song đối với cá nhân mỗi người làm thế nào để thực hiện nguyện vọng này là một vấn đề lớn. Số liệu điều tra năm 1993 về công tác đào tạo bồi dựỡng của 860 lao động nữ ngành Năng lượng cho thấy những vấn để cụ thể, rất đặc thù đốỉ với nữ cán bộ công nhân viên.
Được hỏi về nguyện vọng học tập, trên 65% nữ cán bộ và công nhân đã khẳng (lịnh .nhu cầu muôn tiếp tục được đào tạo và bồi dưỡng.
Những phụ nữ muôn được đào tạo và bồi dưỡng này không phải chỉ rơi vào nhóm có trình độ đại học, mà cả nhóm có trình độ trung cấp và sơ cấp. Điều này phản ánh nhu cầu to lớn đốì với công tác đào tạo và bồi dưỡng trong thời gian tới, vì lực lượng lao động nữ có trình độ trung học và sơ cấp hiện khá chiếm đông ở tất cả các ngành, đặc biệt là ngành năng lượng.
Số lao động nữ bày tỏ nguyện vọng được đào tạo và bồi dưỡng hầu hết đều có mức sống gia đình (tự đánh giá) là đủ ăn trở lên, chiếm 83,8% tổng sô. Đặc biệt là có 17,2% nữ cán bộ công nhân viên mặc dù đời sông rất khó khăn nhưng vẫn mong muôn được tiếp tục học tập. Điều này thể hiện quyết tâm cao, và hy vọng lớn của nữ cán bộ công nhân viên đôi với những cơ hội và lợi ích mà việc đầu tư vào chuyên môn, tay nghề có thế mang lại.
(Tiếp phần sau…..)


Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữphụ nữ và gia đình


Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P18)

Trong 10 năm tới, số cán bộ khoa học nữ đến tuổi về hưu chiếm khoảng 72% đội ngũ các nhà khoa học nữ, tính riêng đôi với nữ phó tiến sỹ là 85,7%. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ trẻ còn quá mỏng manh, ít ỏi, lại ít được quan tâm, bồi dưỡng.
Lấy ví dụ, trình độ ngoại ngữ của cán bộ trẻ hiện nay là một vấn đề lớn. Mặc dù là phương tiện quan trọng để tiếp cận thông tin và nâng cao trình độ chuyên môn, nhưng trình độ ngoại ngữ của nữ cán bộ giảng dạy, đặc biệt là cán bộ trẻ còn rất hạn chế. Chẳng hạn trong số nữ trí thức tuổi dưới 30 chỉ có 2,9% biết một ngoại ngữ; 0,7 biết hai ngoại ngữ ( Bảng 4.12 ).
Bảng 4.12 : Tỉ lệ cán bộ nữ sử dụng ngoại ngữ theo tuổi và số ngoại ngữ (%)
Tuổi
1 ngoại ngữ
2 ngoại ngữ
Dưới 30 tuổi
2,9
0,7 1
31 - 40
15,2
1,4 /
41 - 50
4,6
1,9
51 - 60
4,3
2,9 1


Nguồn : Theo Ngô Thị Thuận, Khảo sát nữ trí thức
Đại ịiọc tổng hợp Hà Nội, 1993. i
Tỷ lệ nữ cán bộ có trình độ chuyên môn trong lực lượng khoa học công nghệ còn thấp. Năm 1989, nữ cán bộ khoa học, kỹ thuật làm việc các trong ngành khoa học công nghệ nói chung chiếm 38,27%, trong đó khoa học tự nhiên là 36,8%, khoa học xã hội và nhân văn là 39%, y học 49%, văn hoá nghệ thuật 33,3% (Vũ Hùng, 1995)
1.     Vấn đề đào tao chuyên môn và bổi dưỡng tay nghề
Công tác đào tạo và bồi dưỡng tay nghề cho đội ngũ lao động nữ là việc làm cấp thiết song việc triển khai trong những năm gần đây còn gặp nhiều khó khăn. Có rất nhiều yếu tô có liên quan cần được xem xét. Tuy nhiên phần dưới đây chỉ tập trung vào hai vấn đề có quan hệ mật thiết và đồng thời có ý nghĩa hết sức quan trọng đốì với sự thành công của công tác đào tạo, bồi dưỡng. Đó là sự quan tâm của các nhà quản lý, sử dụng lao động nữ và hai là nhu cầu học tập của bản thân lao động nữ.
(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/09/phu-nu-voi-suc-khoe-hoc-van-va-trinh-o_57.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: phu nu gia dinhphu nu va gia dinh

Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P17)

Tình hình tương tự xảy ra ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.
Ở nông thôn, nghề nghiệp chủ yếu được đào tạo theo phương thức không chính quy tức là cha truyền con nốì và tự học tự làm. Trong tổng số lao động nông nghiệp chỉ có 0,82% được đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học và 4,75% ở các trường trung học chuyên nghiệp hoặc trường công nhân kỹ thuật (Nguyễn Hữu Đạt, 1995) . ở khu vực quốc doanh, tỷ lệ lao động có tay nghề chung cho cả nam và nữ chỉ chiếm 3 - 4%, thấp hơn ở khu vực tư nhân có tỷ lệ là 6 - 7%.
Trong khi các doanh nghiệp ngày càng có đòi hỏi cao về trình độ chuyên môn, tay nghề của lao động thì có tới 80% số người đến tuổi lao động không có kỹ năng nghề nghiệp (Lê Nhiên, 1995)( }
Trong số những người có nhu cầu lao động đăng ký tại các trung tâm xiic tiến việc làm ở Hà Nội, thì 77% chưa được đào tạo về nghề nghiệp, 52% mới chỉ có trình độ học vấn phổ thông cơ sở (Mai Trang, 1995)
Mai Trang, " Dạy nghề ngắn hạn gắn với sắp xếp việc làm cho lao động trẻ trong cơ chế thị trường", Báo Hà Nội mới, số ngày 7/6/1995, tr.2
Một mặt, nội dung và chất lượng đào tạo chuyên môn, tay nghề chậm cải tiến không theo kịp yêu cầu đa dạng và chuyên sâu của xã hội. Mặt khác, nền kinh tế nặng về lao động chân tay, thủ công đang thòi kỳ chuyển đổi chưa tạo ra nhiều ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật, công nghệ và tri thức cao. Kết quả là hiện tượng thừa trí thức, một nghịch lý đang diễn ra ở nước ta.
Số người có trình độ đại học, cao đẳng không tìm được việc làm có xu hướng tăng lện trong thồi gian gần đây. Đến nay, ước tính có tói 14.000 sinh viên, tốt nghiệp ở 55 trường đại học, cao đẳng trong cả nước chưa có việc làm (Kiều Minh và Thuỳ Dương, 1995)
Ở Hà Nội tỷ lệ số sinh viên tốt nghiệp chưa có việc làm tăng từ 13,4% năm 1988 lên 35,4% năm 1992 (Trần Hồng Lưu, 1995)
Phụ nữ trí thức, lực lượng đi đầu trong khoa học và công nghệ, trong công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đang có biểu hiện hẫng hụt về đội ngũ, tụt hậu về kiến thức so với yêu cầu. Khảo sát tại Đại học tổng hợp Hà nội với 33% nữ trí thức có trình độ đại học trở lên cho thấy gần 40% đội ngũ cán bộ này ở tuổi trên 50.

(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại:



Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P16)

Trong dân số từ 15 tuổi trở lên, nữ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 93,3%, nam là 88,1%. Chỉ có 0,9% phụ nữ là.công nhân kỹ thuật có bằng, tỷ lệ này ở nam là 3,7%. Tỷ lệ nữ có trình độ cao đẳng, đại học là 1,3%, trong khi ở nam là 2,5% ( Bảng 4.10).
Bảng 4.10 : Tỷ lệ dân sốtừ 15 tuổi trở lên theo trình độ chuyên môn và giới, năm 1989 (%)
Trình độ chuyên môn
'Nữ
Nam
Chung
- Không có trình độ chuyên môn, kỹ thuât
93,3
88,1
90,9
- Công nhân kỹ thuật có bằng
0,9
3,7
2,2
- Công nhân kỹ thuật không có bằng
1,2
2,6
1,8
- Trung cấp
3,3
3,1
3,2
- Cao ctẳng, đại học
1,3 .
1 2,5
1,9

Nguồn: Trích theo Lê Thi, vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay, Hà Nội 1991, tr.17
Phân nhóm dân số từ 15 tuổi trở lên theo trình độ chuyên môn từ thấp đến cao, tỷ lệ nữ giảm rõ rệt. Chẳng hạn trong tổng số 1.190.100 người có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, nữ chiếm 55,7%, nam 44,3%, nhưng trong tổng số 526 người có học vị tiến sỹ, nữ chỉ chiếm 5,% trong khi nam là 95% (Bảng 4.11).
Bng 4.11: Dân sốtừ 16 tuổi trô lên theo trình độ chuyên môn và giới, 1994
Trình đô
Tổng số
Nữ(%)
Nam(%)
1. Trên đai hoc



- Tiến sỹ
526
5,0
95,0
- Phó tiến sỹ
7986
12,3
97,7
- Giáo sư
589
3,9
96,1
- Phó giáo sư
2801
4,6
95,4
2. Đai học, cao đẳng
678.100
36,4
63,6
3. Trung cấp chuyên nghiêp*
1.190.100
55,7
44,3
4. Công nhăn kỹ thuẫt*
978.500
20,8
79,2
(*) Số liệu 1989

Nguồn: Uỷ ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Số liệu về phụ nữ Việt Nam 1985-1994, Hà Nội, 1995, tr.42,82.
Chất lượng và trình độ chuyên môn của lao động nữ như vậy ¿tang là trở ngại cho việc tăng cường vị trí và vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Đó cũng là khó khăn cho việc nâng cấp cơ sở hạ tầng xã hội và ứng dụng khoa học công nghệ nói chung trong nền kinh tế quốc dân.
Chẳng hạn, cải cách hệ thống quản lý hành chính đang vấp phải trở ngại lớn về đội ngũ cán bộ: chỉ có 25% trong tổng số công chức có đủ trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu đổi mổi nền kinh tế; 75% cán bộ nhân viên hành chính còn lại cấn được đào tạo lại (Trần Xuân Kiên, 1995)