Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

Phụ nữ và gia đinh (P13-hết)

   Có thể nói rằng, bất bình đẳng nam nữ trong gi đình được duy trì và lưu truyền từ thế hệ này quạ thế hệ khác trước hết là ở trong quan niệm về hôn nhân và gia đình và phẩm chất của người vợ, người chồng. Ví dụ trong khi có tới 32% số người cả nam và nữ cho rằng "biết nội trợ giỏi" là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của người vợ thì chỉ có trên 6% số người này cho rằng đó cũng là phẩm chất quan trọng nhất của người chồng. Nhưng có tới trên 72% cả nam và nữ tỏ ra rất nhất trí và rất bình đẳng cho rằng người chồng và người vợ đều cần "khoẻ mạnh" (ít nhất là vì lý do làm kinh tế), và vợ, chồng "đều có trách nhiệm trong thu nhập gia đình" (Vũ Tuấn Huy, 1995).
Đáng chú ý là, kiểu quan niệm rập khuôn như vậy về hình ảnh gia đình và vai trò giới ngày nay vẫn còn khá phổ biến trong dư luận xã hội, trong quan niệm và định kiến về khuôn mẫu của con trai, con gái. Ví dụ, trong khi cả con gái và con trai đều cần phát triển phẩm chất "lao động tốt” - trên 43% số người được hỏi đồng ý như vậy, thì chỉ có 9% số người trả lời cho rằng con trai cũng cần "giỏi nội trợ”, trong khi đó, 37% số người đòi hỏi con gái dứt khoát phải “giỏi nội trợ (Phùng Hữu Phú và Lâm Bá Nam, 1994). Rõ ràng là ở đây cần có những chuyển biến thực sự sâu rộng trong môi trường văn hoá, hệ thông giá trị mới có thể dần dần hình thành những nét tích cực có lợi cho bình đẳng nam nữ và vai trò giới trong gia đình và xã hội.
Phụ nữ học về gia đình nghiên cứu sự hình thành và biến đổi địa vị của người phụ nữ trong mối quan hệ của hôn nhân, gia đình và xã hội. Ví dụ, phụ nữ học chỉ ra rằng những thay đổi căn bản trong đời sống gia đình đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vị trí, vai trò của người phụ nữ trong quan hệ với các thành viên gia đình. Vì vậy phụ nữ học vể gia đình cố gắng nêu ra và phê phán những yếu tố, mầm mông gây bất bình dẳng nam nữ, đồng thời sớm phát hiện và cổ vũ những nhân tố tích cực của công bằng xã hội về giới trong đời sống gia đình.
Có thể thấy, với một đối tượng nghiên cứu rõ ràng như vậy, phụ nữ học về gia đình khác hẳn với những nghiên cứu khác. Ví dụ, các nghiên cứu chuyên về tộc người Việt mới chỉ " lại cúi đầu lần nữa trên vấn đề gia đình... đê xem thử, thực ra có gì, bên dưới một lớp sơn phủ ngoài những quan niệm có sẩn" (trích theo Tương Lai, 1995) Hoặc xã hội học gia đình đang cố gắng nghiên cứu "mọi thứ", từ cơ cấu, chức năng đến cuộc sống của tam giác gia đình gồm bô", mẹ, con trong mối quan hệ vối tam giác xã hội gồm cá nhân, gia đình và xã hội. Với ý nghĩa đó, xã hội học gia đình khó có thể giải quyết những nhiệm vụ của phụ nữ học về gia đình.
Tóm lại, trong khi đôì với các nhà xã hội học gia đình vẫn là "một thuật ngữ cực kỳ khó xác định, một thuật nhữ được định nghĩa lỏng lẻo nhât trong từ vựng xã hội học".(Tương Lai, 1995) thì các nhà phụ nữ học đã sớm nhanh chóng xác định rõ ràng đôi tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của mình. Đó là, phụ nữ học về gia đình nghiên cứu, phát hiện và cổ vũ những nhân tố cải thiện địa vị người phụ nữ trong gia đình nhằm góp phần làm cho hôn nhân và gia đình thực sự là cội nguồn hạnh phúc cho mỗi cá nhân nữ cũng như nam và là nền tảng của sự phát triển xã hội công bằng và văn minh.

Phụ nữ và gia đinh (P12)

Phụ nữ học về gia đĩnh và xã hội học
Hôn nhân vả gia đình là thiết chế xà hội có ý nghía quan trọng vào bậc nht trong đời sống văn hoá, kinh tế. xã hội của các dân tộc trên thế giớỉ. Riêng đối vổi những nước châu Á , và nhất là Việt nam, các quan hệ gia đình luôn chiếm vị trí hàng đẩu trong hệ thống các giả trị văn hóa truyền thống và hiện đại. Từ xưa, gia đỉnh ồn đinh được coi là chỗ dựa, là cơ sở là điểm xuất phát để nhân hoàn thành những cồng việc ý nghia xã hội điếu nảy có thể thấy qua cách nói tề gia, tri quốc, binh thiên hạ” và nhất là quan niệm thể hiện tinh thần binh đẳng của quan hệ vợ chồng trong gia đình Việt nam ta như " thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn".
Quan niệm hiện đại về ý nghĩa cuộc sống của thanh niên ngày nay cũng cho thấy rõ vị trí quan trọng hàng đầu của yếu tố giá trị truyền thông này. Khi phỏng vấn 374 sinh viên các trường đại học " cuộc sống chỉ có ý nghĩa khỉ nào?”, (chọn 5 yếu tố quan trọng nhất), 310 người hay 82,9% số người được hỏi đã chọn tiêu chí "cuộc sống gia đình ổn định”, tiếp theo là tiêu chí "tình bạn" - 239 người, 63,9%, "học vấn" - 195 người, 52%, "tình yêu”
-         155 người, 41,4% và cuối cùng là "công việc ưa thích" - 135 người, 30.1% (Phùng Hữu Phú và Lâm Bá Nam, Nghiên cứu về gia đình, phụ nữ học luôn cô" gắng phân tích những biểu hiện, những điều kiện và cơ chế ảnh hưởng tới vị trí và vai trò của phụ nữ trong gia đình. Những giá trị văn hoá truyền thông tốt đẹp vê' quan hệ bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ và chồng, giữa con gái và con trai, giữa các thế hệ được chỉ rõ và khuyến khích phát triển, nhân rộng. Đồng thời, những quan niệm lạc hậu về phân công lao động gia đình, ví dụ dồn hết công việc nội trợ, nuôi dạy con cái cho "vai trò truyền thông" hay "chức năng", "thiên chức" của người phụ nữ, người mẹ cần phê phán mạnh mẽ.

(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại:
http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/08/nghien-cuu-phu-nu-va-phu-nu-hoc-p1.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữphụ nữ và gia đình

Phụ nữ và gia đinh (P11)

Thật ngạc nhiên, số liệu và bằng chứng từ các cuộc điều tra và phỏng vấn sâu vẫn cho thấy rất rõ tình trạng bất bình đẳng trong phân công lao động gia đình. Trong khi thực hiện khôi lượng công việc nội trợ và các công việc khác gấp nhiều lần hơn người chồng, thì phụ nữ chỉ có tiếng nói quyết định trong những vấn đề quan trọng bằng một nửa so với chồng. Có thể giải thích hiện tượng bất bình đẳng này như thế nào? Tại sao trong gia đình vị trí của người phụ nữ không tương xứng với vai trò của họ?
Câu trả lời xoay quanh những khía cạnh cơ bản sau:
1.   Tư tưởng coi thường phụ nữ, xem người phụ nữ như một phương tiện trong gia đình chưa được hoàn toàn xoá bỏ trong xã hội.
2.         Quan niệm và giá trị phong kiến, bảo thủ về vị trí, vai trò của phụ nữ trong công việc gia đình còn nặng nề, phổ biến, nhất là ở nông thôn. Hệ thông giá trị đó không theo kịp những biến chuyển lớn lao trong cơ cấu kinh tế. Tư tưởng trọng nam khinh nữ cũng cản trở phụ nữ thuyết phục và lôi cuốn chồng cùng chia xẻ lao động gia đình.
3.  Xã hội đánh giá thấp ý nghĩa của các công việc gia đình, nam giói thiếu động lực trong việc chia xẻ công việc gia đình. Vấn đề giải phóng phụ nữ trong gia đình chưa được đặt một cách tương xứng với yêu cầu đổi mói kinh tế, xã hội.
4.  Thu nhập thấp của gia đình chưa cho phép sử dụng các dịch vụ xã hội cũng như các phương tiện giảm nhẹ gánh nặng nội trợ.
Có thể thấy những mâu thuẫn sau đây nảy sinh từ tình trạng nêu trên :
              1. Mâu thuẫn giữa sự tham gia ngày càng nhiều hơn của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế xã hội và quyền quyết định còn rất hạn chế của họ trong gia đình. Điều đó không cho phép phụ nữ sử dụng và phát huy đầy đủ những kinh nghiệm và nhận thức của mình vào đời sống gia đình.
              2. Mâu thuẫn giữa đòi hỏi ngày càng cao trên thị trường lao động xã hội về tri thức và tay nghề với khả năng đầu tư rất hạn chế của phụ nữ cả về thời gian và trí tuệ cho việc nâng cao năng lực cá nhân. Trong khi đó, hệ thống giá trị và cách phân công lao động trong gia  đình còn cản trở phụ nữ phát triển năng lục của mình trên nhiếu lĩnh vực, Suy cho cùng, điều đó gây ra sự lãng phí về tiềm năng Con người đối với toàn xã hộì nói chung.
             3. Thời gian yêu cầu đối với việc giáo dục con cái trong gia đình đang trở thành vấn đề trọng tâm của xã hội và gia đình. Nhưng phụ nữ ngày càng có ít điều kiện hơn trước để giáo dục con cái, độc biệt nhửng gia đình nghèo.
4. Có cả những máu thuẫn giữa "cũ" và "mới ", giữa "phương tây" và "phương đông”, giữa truyền thống và hiện đại trong quan niệm, giá trị và quan hệ gia đình. Vi dụ trong khi có 91,6% phụ nữ được hỏi ủng hộ mô hình gia đình ít con thì vẫn có tới 30,1% dự định sẽ có 3 con (Tường Lai, 1991, tlđđ)

(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/10/phu-nu-va-gia-inh-p12.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tin phụ nữ,  phu nu va gia dinh

Phụ nữ và gia đinh (P10)

Vậy có đúng là người đàn ông, người chồng thực sự có tiếng nói quyết định trong gia đình không ?
Trước kia ở Việt Nam, đã có thời kỳ, gia đình nền nếp, kiểu mẫu được coi là gia đình với vai trò gia trưởng của người đàn ông, người chồng. Người đàn ông đóng vai trò quyết định và chi phôi các quan hệ
Nhưng hầu như ngay ở gia đình kiểu mẫu đó thì vai trò gia trưởng thể hiện chủ yếu trên khía cạnh tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, công minh, có uy tín. Thực vậy, trong quan hệ “ nam tôn nữ ti này thì người phụ nữ vẫn " giữ vai trò rất quyết định, nhiều khi quyết định hơn cả người đàn ồng gia chủ" trong việc xây dựng gia              đình đầm ấm ( Tr.ần Đình Hượu, 1989 ).
Phân công lao động gia đình giữa vợ và chồng là quan hệ kinh tế bình đẳng: phụ nữ không phải là người phụ việc cho nam giới mà là người bạn đồng hành trong lao động và là người có tiếng nói quyết định trong việc sử dụng kết quả lao động trong nghề nông và nghề tiểu thủ công nghiệp.
Trong linh vực tiểu thương, người đàn ông cũng có vị trí tương tự. Toàn bộ tài chính, kinh tế chi tiêu nằm trong tay người phụ nữ, vì vậy có câu "tay hòm chìa khoá". Có thể nói vai trò gia chủ là hình thức, là danh dự, có ý nghĩa uy tín (Nguyễn Tư Chi, 1989 )( * .
Trên thực tế, người có quyền ra quyết định mói thực sự là người chủ, người có quyền hành chi phối các nguồn lực (tài sản, sức lao động) trong gia đình. Phụ nữ trong một số trường hợp có thể là người giữ ngân quỹ gia đình nhưng chi tiêu như thế nào -có thể lại do người chồng, đặc biệt đối với những khoản chi lớn. Câu trả lòi "cả hai vợ chồng" cho câu hỏi ai là người quyết định chính các khoản chi tiêu trong gia đình xuất hiện với tần suất cao hơn trong các điều tra xã hội học gần đây cho thấy xu hướng cùng bàn bạc để đi đến quyết định có tăng lên ở những nhóm gia đình khác nhau ở cả thành thị và nông thôn. Song điều đó chưa đủ để khẳng định rằng phụ nữ là người "giữ vai trò rất quyết định". Một câu hỏi khác có lẽ cần được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu đó là nếu bàn bạc mà không đi đến thông nhất thì ai là người có tiếng nói cuối cùng?

Phụ nữ và gia đinh (P8)

Có tới 40% phụ nữ trí thức là người thực hiện chính công việc chăm sóc, nuôi dạy con cái. Phải chăng trong gia đình có người mẹ là trí thức thì công việc này được cả hai vợ chồng quan tâm hơn? Rất có thể là trong những gia đình này do việc nuôi dạy con không chỉ đơn thuần là cho con ăn mặc còn là dạy dỗ nên thu hút nam giới chủ động tham gia.
Biểu đồ 6.2 :Vơ và chồng trong việc nuôi dạy con. quốc doanh ngoài quốc doanh nông dân trí thức
Phụ nữ và gia đinh (P8)


Ngoài ra, tỷ trọng tham gia công việc chăm sóc, nuôi dạy con của nữ trí thức là thấp hơn của nữ nông dân. Điều đó có thể giải thích bằng khả năng cao hơn của nữ trí thức trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội có liên quan đến việc chăm sóc và nuôi dạy con như nhà trẻ, mẫu giáo, gia sư V.V..
Ngay cả trong những trường hợp vợ và chồng cùng tham gia vào công việc gia đình thì gánh nặng lao động chủ yếu vẫn được đặt trên vai người phụ nữ. Phỏng vấn các cặp vợ chồng cho thấy ngay cả trong mô hình phân công lao động bình đẳng này người vợ vẫn thưòng đóng vai trò thực hiện còn người chồng thi giúp đõ hoặc " chỉ đạo
Thực ra, khi so sánh các loại gia đình cần chú ý tới lối sống đặc thù của họ. Nếu tính những khối lượng lao động gia đình mà phần lớn phụ nũ nông dân phải làm để phát triển kinh tế gia đình (như 71,4% phụ nữ làm công việc chăn nuôi; 45,6% làm ngành nghề ; 46,2% làm dịch vụ) thì có thể thấy gánh nặng công việc " vặt " này quả không nhẹ nhàng chút nào đối với người phụ nữ. Vối xu hướng tìm việc làm xa nhà của nam giới trong những năm gần đây, khôi lượng công việc gia đình do phụ nữ đảm nhận lại ngày càng tăng lên.
Tuy nhiên, vấn đề đáng lưu ý ở đây là: trong khi nhìn chung các công việc trong gia đình nữ trí thức được cả vợ và chồng cùng chia sẻ (giáo dục con cái 59%, làm kinh tế 66%, tổ chức cuộc sống gia đình 77%), thì sự thực là người vợ vẫn làm nhiều hơn chồng.
Trong khi cơ hội phát triển và việc làm của phụ nữ nhìn chung thấp hơn nam giới, thì việc họ đầu tư nhiều thời gian hơn cho công việc nội trơ là một trở ngại lớn trên con đường tiến tối bình đẳng nam nữ trong gia đình và xã hội. Tất nhỉên, trong lĩnh vực gia đình không nên hiểu máy móc khái niệm bình đẳng. Vợ chồng bình đẳng trong phân công lao động gia đình không có nghĩa là chia đều công việc, hay cả hai cùng ìầm hay chồng giúp vợ làm. Vấn đề là sự phân công rõ ràng, hợp lý để mỗi người vừa có trách nhiệm thực hiện, vừa phát huy được khả năng của mình, lại vừa có điều kiện để phát triển toàn diện trong gia đình và ngoài xã hội.

Phụ nữ và gia đinh (P7)

Đối với công việc chăm sóc và nuôi dạy con cũng có xu hướng tương tự. Hỏi ai là người chủ yếu thực hiện việc nuôi dạy con? Các câu trả lời cho thấy có tới trên 30% gia đình có vợ là người thực hiện chính, trong khi đó chỉ có dưới 5% gia đình chồng là người chính.

Nhóm gia đình
Người thực hiện chính
Chung
Công
nhân
quôc
doanh
Công
nhân
ngoài
quốc
doanh
Nông
dân
Trí
thức
Vợ
62,3
61,4
58,8
87,0
42,0
Chồng
3,3
4,0
1,5
2,9
5,0
Cả hai
34,4
34,6
39,7
10,1
53,0
Bảng 6.3: Vợ chồng thực hiện công việc nội trợ ở gia đình công nhân, 
nông dân và trí thức (%)

Thứ hai, mô hình phân công lao động gia đình giữa vợ và chồng phụ thuộc vào loại công việc và thành phần nghê nghiệp của gia đình. Trong các nhóm gia đình, gia đình trí thức có tỷ lệ phụ nữ thực hiện công việc nội trợ thấp nhất, 42% trí thức so với 87% nông dân ( Bảng 6.3). Có thể giải thích rằng ở gia đình có trình độ học vấn thì cơ hội bình đẳng trong phân công lao động giưã vợ và chồng lớn hơn. Tuy vậy còn có lý do để cho rằng quan niệm phong kiến coi công việc nội trợ là của phụ nữ còn khá nặng nể trong các nhóm gia đình
Biểu đồ 6.1: Vợ và chồng trong công việc nội trợ
môt số nhóm gia đình (%)

Phụ nữ và gia đinh (P7)

Công việc chăm sóc và nuôi dạy con cái thường phức tạp, đòi hỏi có sự tham gia của cả chồng và vợ. Nhìn chung đó không phải là công việc thuần tuý nội trợ vì liên quan đến dạy chữ, dạy người.                                          :
Biểu đồ 6.1: Vợ và chồng trong công việc nội trợ
môt số nhóm gia đình (%)

Nhóm gia đình Người thực hiện chính
Chung
Công
nhân
quốc
doanh
Công nhân ngoài quốc doanh
Nông
dân
Trí thức
37,8
25,0
23,9
62,4
40,0
Chồng
5,5
5,6
3,2
12,3
1,0
Cả hai
56,7
69,4
72,9
25,3
59,0


Có một tỉ lệ đáng kể người trả lời cho biết trong gia đình họ cả hai vợ chồng cùng tHam gia vào CÔĨ1£ việc này (Bảng 6.4). Ớ nông thôn, nhiều cặp vợ chồng vẫn cho rằng, nuôi dạy con cái chủ yếu là nặng về nuôi, tức lầ cho ăn, cho uống và là công việc nội trợ. Vì vậy gia đình nông dân có tỷ lệ phụ n€í chăm sóc con cái cao hơn cả, 62,4% (Biểu đồ 6.2).

(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/10/phu-nu-va-gia-inh-p8.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữphụ nữ và gia đình