Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

Phương pháp nghiên cứu phụ nữ học (p7 - hết )

Tính khách quan của nghiên cứu
Như đã nói ở trên, các nhà nghiên cứu có xu hướng sử dụng các phương pháp thu thập cứ liệu vổi số lượng mẫu lớn ( N-lớn) và phân tích cứ liệu dựa trên các thuật toán. Với rất nhiều số liệu được biểu diễn bằng các hình thức khác nhau, phương pháp này tỏ ra khách quan hơn so với phương pháp định chất (n-nhỏ), thường được trình bày dưới dạng các câu chuyện cụ thể. Thuật toán và việc thao tác với các con số thường là khó hiểu với nhiều người đọc và vì thế, dễ gây ấn tượng về một kết quả mang tính khoa học và khách quan.
Như đã biết, nghiên cứu N- lớn, hay các khảo sát định lượng thường -dựa trên một cơ sỏ lý luận nhất định. Lý luận, như được sử dụng trong khoa học xã hội, đơn giản chỉ là sự giải thích cho một hiện tượng nào đó và mốỉ quan hệ giữa các yếu tố liên quan. Mục đích của quá trình nghiên cứu là tập hợp và xem xét các bằng chứng để kiểm tra tính hợp lý của một giải thích như thế. Ý kiến tranh luận ở đây cho rằng chính trong việc nêu ra và trình bày lý thuyết có nhiều nguồn nhập liệu chu quan hơn bất kỳ một giai đoạn nào khác của quá trình
nghiên cứu (T. E. Jayaratne, 1980)(#) Đặc biệt là nếu những lý thuyết này được đúc rút và tổng kết chủ yếu từ kinh nghiệp của đàn ông. Như vậy, một nghiên cứu có bề ngoài khác quan không hẳn đã là khách quan như người ta vẫn nghĩ về nó.
Với lý do nếu trên, các nhà nghiên cứu phụ nữ đặt vấn đề sử dụng phương pháp N-lớn với sự thận trọng. Bởi vì lý do khách quan mà người ta thường dựa vào đó để gạt ra ngoài các phương pháp n-nhỏ không phải khi nào cũng là xác đáng. Tương tự như vậy, các phương pháp n-nhỏ, dù bị coi là mang tính chủ quan hơn song nếu được nhận thức đầy đủ và có ý thức rõ ràng để khắc phục thì có thể mang lại những thông tin trung thực và khách quan hơn là người ta vẫn quan niệm. Khác vổi phần đông người đọc và người sử dụng các kết quả nghiên cứu thường bị ấn tượng bởi tính khách quan do các con số đem lại, nhà nghiên cứu phụ nữ hơn ai hết cần nhận thức đầy đủ về những mặt mạnh và yếu của từng phương pháp để có sự kết hợp tôì ưu, nhằm đem lại độ chân thực cao nhất cho các cứ liệu về phụ nữ.
Nhằm tránh lặp lại những hạn chế về phương pháp như đã nêu ở trên, các nhà phụ nữ học đã đưa ra một số nguyên tắc có tính hướng dẫn đối với các công trình nghiên cứu phụ nữ. Các nguyên tắc này dựa trên quan niệm coi nghiên cứu phụ nữ là một quá trình kiến tạo tri thức nhằm góp phần giải quyết những vấn đề thực tế, mang lại lợi ích cụ thể cho phụ nữ.
Những nguyên tắc đó bao gồm(*) :
Phụ nữ là người đồng hành trong việc tạo dựng tri thức chứ không đơn thuần là khách thể hay đôì tượng tiếp nhận tri thức.
Người nghiên cứu đóng vai trò vừa là học trò vừa là người hướng dẫn.
Nghiên cứu phụ nữ hướng tới sự biến đổi vì công bẵng xã hội và bình đẳng nam nữ.
Nghiên cứu phụ nữ là vì sự tiến bộ của phụ nữ chứ không phải là nghiên cứu bỏi phụ nữ. Nói cách khác, nam giới cũng có thể nghiên cứu phụ nữ.
Phụ nữ là một nhóm đa dạng, nghiên cứu phụ nữ cần quan tâm đến các yếu tố dân tộc, văn hoá, đẳng cấp, lứa tuổi...
Những phương pháp thu thập thông tin mà các công trình nghiên cứu phụ nữ đã vận dụng thường là sự kết hợp của một số trong các phương pháp sau đây.
Quan sát tại chỗ;
Gặp gõ và hỏi chuyện không chính thức;
Phỏng vấn sâu về các trường hợp cụ thể;
Thảo luận nhóm;
Điều tra bảng hỏi;
Câu chuyện về cuộc đời phụ nữ;

Phương pháp nghiên cứu phụ nữ học (p6)

Những nghiên cứu " bằng con mắt-đàn ông " hoặc chỉ nghiên cứu về một giới- nam giới, nhưng lại khái quát chung cho cả hai giới. Ví dụ nghiên cứu về tình trạng nghèo khổ ở nông thôn, khái niệm "nghèo" được phân tích từ nhiều góc độ nhưng không phải từ góc độ giới. Những vấn đề của phụ nữ nghèo hoàn toàn vắng bóng trong tư duy, ngôn ngừ của người nghiên cứu cũng như trong các công cụ nghiên cứu. Tương tự như vậy, một nghiên cứu về vấn đề công bằng xã hội đề cập đến rất nhiều khía cạnh của tình trạng thiếu công bằng xã hội, ví dụ từ khía cạnh thu nhập, địa vị, học vấn..., nhưng hoàn toàn không nói tối hiện tương bất công bằng về giới như một trong những biểu hiện của bất công bằng xã hội. Rõ ràng là ở đây vấn đề giới đã không được các nhà nghiên cứu cho là có ý nghĩa đối với nội dung khoa học của đề tài. Trong những trường hợp này, nhà nghiên cứu có thể sử dựng nhuần nhuyễn các phương pháp xã hội học để thu thập thông tin nhưng những cứ liệu thu được chỉ phản ảnh một phần của thực tế cần tìm hiểu mà thôi.
Một vấn đề khác, thể hiện cái nhìn thiên kiến của đàn ông trong nghiên cứu là nhà nghiên cứu thường lấy chính đàn ông làm chuẩn để phán xét đàn bà. Cũng xuất phát từ quan niệm này, những gì thuộc về đàn ông và gắn với đàn ông được nhấn mạnh và coi trong hơn trong phân tích cũng như thu thập thông tin.Ví dụ số' lượng các công trình nghiên cứu về vấn đề sức khoẻ của phụ nữ là rất ít so với những công trình liên quan đến sức khoẻ bà mẹ. Dường như trong mối quan hệ với đứa con và nguy cơ ảnh hưởng đến con thì sức khoẻ phụ nữ, lúc này là bà mẹ trỏ nên quan trọng hơn đốỉ với các nhà nghiên cứu.
Một ví dụ khác, là việc sử dụng các chuẩn mực kép. Đây là hiện tượng đo lường, đánh giá các hành vi hoặc sự việc bằng các chuẩn mực hay thước đo khác nhau đối với nam và nữ. Ví dụ trong nghiên cứu về gia đình, vai trò của người vợ thường được xem xét chủ yếu dưới góc độ thưc hiên những nghĩa vụ và bổn phận cụ thể. Còn vai trò của người chồng thường được xem xét dưới góc độ đóng góp cho thu nhập gia đình. Những nghiên cứu này thường đi đến các chỉ dẫn làm giảm nhẹ công việc của phụ nữ bằng cách tăng cường các loại dịch vụ và phương tiện gia đình nhưng hầu như không đề cập đến sự cần thiết chia sẻ công việc từ phía người chồng. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại:

Phương pháp nghiên cứu phụ nữ học (p5)

Những điều ở các phần trước thực ra không phải là hiện tượng riêng biệt đối với phụ nữ mà là đối với nam, nữ đốì tượng nghiên cứu nói chung. Tương tự như vậy, nó cũng không phải là đặc điểm riêng của giới đàn ông làm nghiên cứu. Phụ nữ làm nghiên cứu cũng có thể mắc phải những vấn đề tương tự. Nguồn gốc của vấn đề là ở bản thân công tác nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu mang tính tự thân. Nghĩa là nhằm ra được sản phẩm ( báo cáo, bài đăng, sách...) đúng hạn, theo những khuôn mẫu đã được giới khoa học chấp nhận mà không quan tâm đến tác động cuối cùng mà những sản phẩm đó có thể đem lại đối với đối tượng nghiên cứu, một cách trực tiếp cũng như gián tiếp. Tuy nhiên, vì quan niệm coi thường phụ nữ còn phổ biến cả ở người nghiên cứu cũng như ở chính các đối tượng nghiên cứu cho nên các phương pháp nghiên cứu mang mục đích tự thân trong nhiều trường hợp còn có đặc điểm định kiến đàn ông.
Nghiên cứu phụ nữ cho rằng với mục tiêu hưống tói những biến đổi xã hợi tích cực, nhà nghiên cứu không thể chỉ bằng lòng với các báo cáo đầy đủ, đúng hạn theo những thông lệ đã được chấp nhận mà còn phải biến quá trình nghiên cứu thành quá trình xây dựng mối quan hệ hai chiều tích cực với người được nghiên cứu. Đôi tượng nghiên cứu trong trường hợp này không phải là những cá thể bị động mà trỏ thành một trong những chủ thể của quá trình nghiên cứu, có quan hệ bình đẳng, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau với người nghiên cứu. Chỉ trên cơ sở này, sự sinh động và đa dạng về kiến thức, kinh nghiệm sống, tâm tư, tình cảm của các cá nhân và nhóm phụ nữ khác nhau mới có thể được bộc lộ và trao đổi, làm giàu thêm tri thức và vốn sống của tất cả những ai tham gia nghiên cứu. Và cũng chỉ trên cơ sở này, công tác nghiên cứu mới vượt ra ngoài những giới hạn thường lệ của nó ỵới những sản phẩm khô khan, nặng về triết lý, nhẹ về biểu cảm và xám màu định kiến đối với phụ nữ; trỏ thành một quá trình sáng tạo, làm tăng sức mạnh tư duy và năng lực thay đổi của tất cả những người tham gia nghiên cứu.
"Bằng con mắt đàn ông".
Đây là hiện tượng xem xét và nhìn nhận sự việc bằng cái nhìn thiên lệch đàn ông. Dưới con mắt đàn ông, đàn bà là những khách thể phụ thuộc, được đại diện bởi đàn ông. Cũng dưới con mắt đàn ông, đời sông, hành động, cách nghĩ và tình cảm của phụ nữ là những thứ vụn vặt, thứ yếu, hoặc không gây chú ý, hoặc không cần thiết phải xem xét cụ thể. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại:

Phương pháp nghiên cứu phụ nữ học (p4)

Phê phán và phát triển
Tiếp nhận các phương pháp nghiên cứu xã hội học, các nhà nghiên cứu phụ nữ nhanh chóng nhận ra khả năng hạn chế của chúng trong việc tiếp cận, mô tả, phân tích các đối tượng nghiên cứu đa dạng và phong phú của phụ nữ học.
Sự hạn chế này, dưới các hình thức thể hiện khác nhau, có thể bắt gặp không chỉ ở một khâu riêng lẻ nào đó của quá trình nghiên cứu mà thường tiềm ẩn ở tất cả các bước nghiên cứu. Để hiểu rõ những hạn chế vốn có này, đôi khi cần vượt ra ngoài phạm vi đơn thuần của các phương pháp nghiên cứu. Đôi khi cần bắt đầu từ những điều xa hơn rất nhiều, ví dụ từ phương pháp tư duy, hay đạo đức nghiên cứu. Dưói đây chỉ nêu một số ví dụ trong rất nhiều những vấn đề thường gặp.
Quan hệ giữa người nghiên cứu và người được nghiên cứu.
Người ta nhận thấy không ít nghiên cứu được tiến hành dựa trên mối quan hệ mang tính khai thác đối với người được nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đên, khai thác tối đa những thông tin có thể khai thác trong thòi gian ngắn nhất và ra đi. Những người là đôi tượng nghiên cứu thường không được gì, ngoài việc mất khá nhiều thời gian để trả lời các câu hỏi. Người trả lời có thể cảm nhận rất rõ ràng trong những nghiên cứu như vậy là không ai thực sự quan tâm đến họ và những vấn đề của họ cả. Điểu mà những người đang đặt câu hỏi quan tâm là một sô'thông tin nào đấy và chỉ thế thôi. Một vài phụ nữ nông thôn kể lại là họ không hiểu vì sao mà các ạnh, chị nghiên cứu lại không hài lòng về họ, phải chăng vì họ không nhớ rõ một điều gì đó, hay họ đã không diễn đạt được rõ ràng, hay vì trẻ con quấy khóc làm gián đoạn cuộc phỏng vấn?!
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu, vì nhiều lý do khác nhau, thường không thực hiện được lời hứa của mình về việc sẽ thông báo kết quả nghiên cứu cho những người được nghiên cứu. Sự thất hứa của những người nghiên cứu như một hiện tượng phổ biến đến lượt nó sẽ gây khó khăn cho bản thân công tác nghiên cứu. Sẽ không có gì là ngạc nhiên khi những nhà nghiên cứu không nhận được sự ủng hộ và hợp tác ở những nơi đã từng được nghiên cứu. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại:

Phương pháp nghiên cứu phụ nữ học (p3)

Về mục tiêu, phương pháp N - lớn chủ yếu nhằm thu thập những cứ liệu về các biến, đo lường những thay đổi ở từng mặt, từng khía cạnh nhất định nào đó của một hiện tượng xã hội, nhằm giải thích các biến số và những thay đổi quan sát được, và nhằm kiểm nghiệm (chứng minh chấp nhận hay loại bỏ giả thiết ) tri thức lý luận. Trong khi đó, phương pháp n - nhỏ chủ yếu nhằm tìm hiểu, xem xét kỹ lưỡng một hiện tượng xã hội nhất định nào đó với tư cách là một chỉnh thể; nhằm phát hiện và giải thích cái chung, cái ổn định, cái bất biến trong những cái riêng phong phú đa dạng và không ngừng biến đổi, và nhằm vận dụng, phát triển tri thức lý luận.
Về cách tiếp cận, phương pháp N - lớn tập trung vào phân tích và suy luận về những mối liên hệ nhân quả đơn giản ( ví dụ A - học vấn thấp là nguyên nhân của B - thu nhập thấp ) và có tính xác xuất ( ví dụ, chị X có học vấn cao thì sẽ có nhiều khả năng thu nhập cao
hơn so với chị Y có học vấn thấp ). Trong khi đó, phương pháp n - nhỏ tập trung vào giải thích một cách tổng hợp và có tính lịch sử cụ thể về mối liên hệ nhân quả phức tạp ( ví dụ, trong điều kiện c - ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, cùng với D - sức khoẻ yếu, E " nhiều con, F - ít vốn thì A - học vấn thấp là nguyên nhân của B - thu nhập thấp ).
Ngoài ra, sự khác biệt cơ bản giũa hai phương pháp còn là ở chỗ phương pháp N-lớn, tức các số' liệu định lượng được phân tích dưới dạng các giá trị bằng sô, còn phương pháp n-nhỏ, tức các tư liệu định chất được phân tích dưới dạng ngôn ngữ của đổì tượng nghiên cứu. Với đặc điểm này, các tư liệu định chất thể hiện sâu sắc hơn tình cảm đối với người được nghiên cứu. Ví dụ một mô tả chi tiết cuộc sông của các bà mẹ cô đơn thường dê gây xúc động hơn là một báo cáo với các sô liệu vê thu nhập, mức sống...của họ.
Như vậy sau khi cân nhắc, so sánh kỹ lưỡng hai phương pháp trên có thể khẳng định rằng điều tốt hơn cả, và hoàn toàn có cơ sở, là kết hợp chúng hơn là chỉ biết dựa vào phương pháp này mà bỏ qua phương pháp kia.
Điều cuối cùng cần lưu ý ở đây có liên quan tới phương pháp xử lý cứ liệu. Một trong những lý do để phương pháp N - lớn được ưa dùng là khả năng vi tính hoá công việc xử lý sô liệu. Hiện nay các chương trình xử lý thông kê trên máy vi tính như SYSTAT, SPSS, SAS, STATA trỏ nên thông dụng trên thế giới. Với chương trình xử lý, ví dụ, SPSS đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, người nghiên cứu có thể " gọi ra " bất kỳ con số hay hệ số tính toán nào một cách rất nhanh chóng. Có thể nói công việc xử lý toán thông kê xác xuất phức tạp, tỷ mỉ phải làm thủ công trước đây giờ đã có thể thực hiện dễ dàng như một " trò chơi điện tử
Tuy nhiên việc " xử lý bằng máy vi tính " không hề đồng nghĩa với việc tìm ra được những bằng chứng và những con sô' xác thực. Bởi vì các kết quả mà máy vi tính đưa ra chỉ có thể đúng đắn khi các cứ liệu đầu vào là xác thực và trong sạch. Điều này hơn một lần nữa khẳng định tầm quan trọng, tính nhất quán, lô gích của công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm cấu thành từ các phương pháp tư duy xã hội học, phương pháp thu thập cứ liệu và phương pháp xử lý cứ liệu và trình bày kết quả. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại:

Phương pháp nghiên cứu phụ nữ học (p2)

Thứ hai, mặc dù phương pháp nghiên cứu xã hội học đang trỏ nên rất phổ biến nhưng vẫn chưa thông nhất tên gọi và cách phân loại các phương pháp nghiên cứu cụ thể. Ví dụ, cùng một phương pháp người này gọi là phương pháp phỏng vấn người kia gọi là phương pháp phát vấn (điều tra). (Xem: Phạm Đình Huỳnh và Phạm Chiến Khu, 1995; Phạm Tất Dong, Nguyễn Sinh Huy và Đỗ Nguyên Phương, 1995).
Có rất nhiều cách phân loại phương pháp nghiên cứu. Để thuận tiện có thể chia các phương pháp hiện có thành hai nhóm lớn là phương pháp thu thập cứ liệu và phương pháp xử lý cứ liệu (phương pháp chọn mẫu là nhằm đảm bảo cứ liệu thu thập có tính đại diện cao).
Tuỳ thuộc vào mục tiêu, đối tượng và ý tưởng nghiên cứu mà nhà phụ nữ học lựa chọn phương pháp cụ thể để thu thập và xử lý cứ liệu thu được. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng có tính chất quyết định hàng đầu của khâu xác định vấn đề và thao tác khái niệm nghiên cứu. Có thế hình dung nghiên cứu phụ nữ, cũng như các nghiên cứu xã hội học như một tảng băng mà phần nổi trên mặt nước là phần thư thập và xử lý cứ liệu còn phần chìm dưới nước (chiếm tới 2/3 khôi lượng) chính là phần công việc tư duy bằng khái niệm xã hội học. Hơn thê nữa, có thể nói tư duy xã hội học là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ chu trình nghiên cứu xậ hội học từ khâu xây dựng đề án nghiên cứu, thu thập, xử lý cứ liệu và trình bày kết quả.
Thứ ba, đa số các nhà nghiên cứu xã hội học hiện nay ở nước ta chủ yếu dựa vào các phương pháp thu thập cứ liệu theo nguyên tắc "càng nhiều càng tốt Nghĩa là người nghiên cứu thường quan tâm tới việc tăng số lượng mẫu ký hiệu N (ví dụ sô' người, số hộ gia đình, số doanh nghiệp). Vì vậy phương pháp phỏng vấn bằng phiếu câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp được coi là phương pháp xã hội học cơ bản và được sử dụng phổ biến.
Mặc dù phương pháp này có những ưu điểm của mình song nghiên cứu phụ nữ không vì thế mà bỏ qua một số phương pháp khác, trong sô' này có các phương pháp như nghiên cứu tình huống (còn gọi là nghiên cứu trường hợp, phương pháp điển cứu) và phỏng vấn sâu. Nếu nhóm các phương pháp trên có thể gọi là phương pháp N - lớn (mẫu lớn có khi tới hàng nghìn) thì nhóm phương pháp này có thể gọi là phương pháp n - nhỏ (mẫu nhỏ thậm chí một vài trường hợp)
Một số người phân loại những phương pháp này thành phương pháp định lượng và phương pháp định tính (đúng hơn phải là định chất). Song cách phân loại đó chưa xác đáng vì định lượng và định chất là hai mặt của bất kỳ một nghiên cứu xã hội học nào, của bất kỳ phương pháp nghiên cứu nào. Thực vậy, nhà nghiên cứu nào cũng mong muôn và cố lựa tìm cho ra " những con sô biết nói ", tức định lượng và phát hiện cho bằng được những quy luật, thuộc tính, tức định chất có thể chứng minh, kiểm nghiệm trong thực tế. Ngoài sự khác nhau dễ nhận thấy về số lượng mẫu ( N - lớn, n - nhỏ ) người nghiên cứu cần chú ý tới một sô' khác biệt cơ bản đê lựa chọn và sử dụng có hiệu quả những phương pháp nghiên cứu này. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại:

Phương pháp nghiên cứu phụ nữ học (p1)

Là một lĩnh vực nghiên cứu non trẻ, phụ nữ học nhanh chóng bắt nhịp với sự chuyển mình mạnh mẽ trong phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội đặc biệt là của xã hội học. Từ cuôl những năm 80, nghiên cứu xã hội học đã bắt đầu vận dụng những phương pháp khoa học hiện đại trong việc thu thập và xử lý cứ liệu. Các phương pháp này cùng với các phương pháp nghiên cứu khác có cái tên chung thường gặp là phương pháp nghiên cứu xã hội học. Cho đến nay có tới 80% các nghiên cứu khoa học xã hội sử dụng phương pháp xã hội học (Phạm Đình Huỳnh và Phạm Chiến Khu, 1995)
Vì vậy sẽ không có gì lạ lùng khi các nhà nghiên cứu phụ nữ và nghiên cứu giới đang tích cực vận dụng phương pháp xã hội học để nghiên cứu vấn đề phụ nữ và nam giới. Điều đáng quan tâm là ở chỗ nghiên cứu phụ nữ đã sử dụng những phương pháp này một cách có chọn lọc, phê phán. Những hạn chế của các phương pháp truyền thông đối với nghiên cứu phụ nữ được chỉ rõ, đồng thời, những điểm mới, những phương pháp thực sự có ý nghĩa đốì với phụ nữ học cũng dần dần được hình thành trong quá trình tiếp nhận, phê phán và phát triển này.
Tiếp nhận phương pháp nghiên cứu xã hội học
Phương pháp (nghiên cứu) xã hội học là bất kỳ phương pháp nghiên cứu nào mà các nhà xã hôi học chuyên nghiệp sử dụng để giải quyết vấn đề nghiên cứu của họ. Đó có thể là phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn, nghiên cứu tình huống, thực nghiệm. Đó có thể là phương pháp chọn mẫu, phương pháp xử lý cứ liệu, phương pháp định lượng và định chất, V.V.. Điều này khác với cách hiểu trong một số nghiên cứu khi cụm từ " phương pháp xã hội học " được nhắc tới như thể dó là tiêu chuẩn, thước đo cho tính khoa học, tính xác thực của các nhận định và kết quả nghiên cứu. Trong khi đó, cụm từ này chỉ có ý nghĩa phân biệt với các phương pháp của các ngành khoa học khác như phương pháp vật lý học, phương pháp toán học hay phương pháp triết học.
Có một số điều cần lưu ý khi nói tới các phương pháp nghiên cứu này.
Thứ nhất, nhiều khoa học khác cũng sử dụng các phương pháp nêu trên. Ví dụ, khoa học tự nhiên cũng sử dụng phương pháp quan sát và thực nghiệm; khoa học xã hội như tâm lý học cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn. Vì vậy có thể nói bản thân phương pháp nghiên cứu chưa đem lại ý nghĩa xã hội học, chưa có tính xã hội học.
Thứ nhất, nhiều khoa học khác cũng sử dụng các phương pháp nêu trên. Ví dụ, khoa học tự nhiên cũng sử dụng phương pháp quan sát và thực nghiệm; khoa học xã hội như tâm lý học cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn. Vì vậy có thể nói bản thân phương pháp nghiên cứu chưa đem lại ý nghĩa xã hội học, chưa có tính xã hội học.
Nói cách khác, bản chất xã hội học của phương pháp nghiên cứu chủ yếu được quy định bởi mục tiêu và đôì tượng, ý tưởng và vấn để, lý thuyết và khái niệm nghiên cứu. Ví dụ phương pháp phỏng vấn mà một số người cho là của xã hội học hoàn toàn có thể là phương pháp nghiên cứu tâm lý học nếu nhà tâm lý học muốn sử dụng cuộc phỏng vấn để xem xét đánh giá khả nắng trí nhớ hay năng lực tư duy của người trả lời phỏng vấn.
Hoặc, phương pháp liên tưởng, phương pháp chiếu tâm vốn được coi là phương pháp tâm lý học rất có thể được xem là phương pháp xã hội học. Vì nhà xã hội học có thể sử dụng chúng để tìm hiểu mối liên hệ nhân quả giữa nhũng sự kiện kinh tế xã hội với những diễn biến trong quá trình phát triển nhân cách của một thế hệ. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại:

Phụ nữ học: tính độc lập và tính phong trào (p4 - hết)

Thứ hai, nghiên cứu phụ nữ không dừng lại ở miêu tả và giải thích hay đưa ra những dự báo khoa học có tính chất thuần tuý khách quan từ quan điểm của người 'ngoài cuộc". Phụ nữ học giải quyết vấn đề nghiên cứu trước hết với tư cách của người "trong cuộc". Thực vậy, nghiên cứu phụ nữ được khơi dậy và nuôi dưõng bởi nguồn cảm hứng vô tận và sự cảm thông sâu sắc về sô phận còn nhiều thiệt thòi và trắc trở của người phụ nữ trong xã hội. Hơn thế, nghiên cứu phụ nữ còn phê phán những ngang trái, những phi lý, những bất công và đặc biệt còn nâng niu, trân trọng và ngợi ca những vẻ đẹp, những điểm sáng trong cuộc đời còn nhiều khó khăn của phụ nữ. Vì vậy có thể nói phụ nữ học .vượt xa các môn khoa học khác về khả năng biểu cảm và thuyết phục vì giầu cảm xúc, tính nhân vần và chất thơ ca trong các nghiên cứu.
Cuối cùng là quan điểm "cải biến thế giới" của nghiên cứu phụ nữ. Khác hẳn với nhiều khoa học ra đời trong lâu đài của các vương quốc khoa học "đàn ông", phụ nữ học bắt nguồn từ phong trào xã hội đòi cải thiện địa vị xã hội của phụ nữ. Các công trình nghiên cứu của phụ nữ học không chỉ nhanh nhạy nắm bắt các vấn đề nảy sinh mà còn sớm phát hiện những mâu thuẫn và đưa ra cách giải quyết có tính thực tiễn cao.
Vì vậy coi nghiên cứu phụ nữ là "phong trào" không hề có ý làm giảm nhẹ tính khoa học và tính lý luận mà ngược lại càng khẳng định tính sáng tạo và chất thực tiễn thấm sâu trong mỗi nghiên cứu lý luận và thực nghiệm của phụ nữ học. về điều nay, nghiên cứu phụ nữ đang tiến những bước xa trên con đường khoa học từ "giải thích thế giới" đến "cải tạo thế giới" như Các Mác đã từng kêu gọi các nhà tư tưởng triết học và các nhà khoa học trước đây.
Tóm lại, nghiên cứu phụ nữ bắt nguồn từ thực tế cuộc sông và nhằm phục vụ cuộc sông. Vì vậy chiến lược tốt - nhất để đối phó với những thách thức nói trên là nghiên cứu phụ nữ tiếp tục phát huy truyền thông quý báu đó. Các nhà phụ nữ học cần bám sát vào thực tiễn phong trào phụ nữ, phát hiện những vấn đề và những mối quan tâm của phụ nữ trong xã hội. Điều này phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là con đường phát triển của phụ nữ học.

Đọc thêm tại:

Phụ nữ học: tính độc lập và tính phong trào (p3)

Tính phong trào
Khác hẳn với các khoa học khác thường phải ra sức gắn lý luận với thực tiễn, nghiên cứu phụ nữ ra đời và trưởng thành trong phong trào vì phụ nữ vì vậy tiềm tàng chất thực tiễn và sáng tạo lớn lao trong lý luận và phương pháp luận, trong quan điểm và bằng chứng nghiên cứu. yổi ý nghĩa đó có thể coi phụ nữ học là hoạt động nghiên cứu "phong trào", nhằm soi rọi và giải quyết những vấn đề của phụ nữ trong đời sống xã hội hiện đại.
về mặt lý luận nhận thức, nghiên cứu phụ nữ dựa vào những luận điểm phương pháp luận gốc như sau. Luận điểm thứ nhất cho rằng trong xã hội, phụ nữ vẫn có địa vị lệ thuộc thể hiện ở sự bất bình đẳng nam nữ, bất bình đẳng xã hội và phân biệt đối xử. Ví dụ, ở íihiều nơi trên thế giới tiền công lao động trung binh của lao động nữ thấp hơn nam. Phụ nữ phải dành thòi gian và công sức cho lao động gia đình nhiều hơn nam. Hay mức độ tham gia công tác quản lý kinh tê xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam.
Luận điểm thứ hai cho thấy địa vị lệ thuộc của phụ nữ trong xã hội là có thật, đang diễn ra hàng ngày nhưng lại phi tự nhiên và phi lý, là không cần thiết và không có lợi. Lấy ví dụ từ khoa học tâm lý thực nghiệm. Người ta mời một nhóm người lớn đến quan sát, tiếp xúc và nhận xét về hành vi, cử chỉ của một nhóm trẻ em trai và gái dưới ba tuổi. Kết quả là tất cả cạc bé gái đều được đối xử và nhận xét bằng những cử chỉ và những từ thường dành cho "vai nữ” như ngoan ngoãn, dễ thương, đáng yêu, sau này sẽ làm cô giáo... Tất "cả các bé trai được đối xử và nhận xét bằng những từ của ”vai nam” như hiếu động, dũng cảm, cứng cỏi, sau này sẽ là phi công...
Thực ra thủ thuật thực nghiệm ở đây là các bé gái được mặc quần áo của bé trai và bé trai ăn mặc như bé gái. Nhưng người lớn trong thực nghiệm này chỉ căn cứ vào vẻ bề ngoài là "trai" hay "gái" để cư xử tương ứng và nhận xét về hành vi thậm chí tiên đoán tương lai của những đứa trẻ đó. Điều đó cho thấy "vai nam” hay "vai nữ" của mỗi cá nhân chủ yếu là do xã hội khoác lên từ lúc lọt lòng, thậm chí từ trước lúc ra đời dưới dạng chò đợi, mong muốn và đeo đuổi suốt cuộc đời mỗi người. Địa vị lệ thuộc của phụ nữ cũng vây, không phải là bẩm sinh, không phải là tự nhiên như nhiều người tưởng. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại:

Phụ nữ học: tính độc lập và tính phong trào (p2)

Không thể không nhận thấy rằng các kết quả và phát hiện của nghiên cứu phụ nữ đang đặt ra những vấn đề lý luận và thực nghiệm to lớn làm lay chuyển tận gốc những luận điểm và phương pháp luận của các khoa học khác. Ví dụ các nhà xã hội học không chỉ đưa khái niệm giới, phụ nữ vào nghiên cứu thực nghiệm để giải quyết những vấn đề nghiên cứu cụ thể về gia đình, phân tầng xã hội hay cơ cấu xã hội mà còn cố gắng xây dựng cả những chuyên ngành như xã hội học về phụ nữ, xã hội học về giới. Kinh tế học trước đây chủ yếu tập trung vào những vấn đề như sản xuất, lao động, vốn, kỹ thuật, thị trường V.V.. thì gần đây bắt đầu nói tối bình đẳng giới trong lao động và thu nhập. Đặc biệt là sự hình thành chuyên ngành kinh tế học xã hội với bộ phận cấu thành cơ bản là những vấn đề phụ nữ làm kinh tế.
Ảnh hưởng của nghiên cứu phụ nữ về mặt lý luận và phương pháp luận trong khoa học lón đến mức người ta nói đến khả năng của cuộc "cách mạng" trong các môn khoa học xã hội và nhân văn. Thực vậy, vấn đề của các khoa học này không chỉ là ở chỗ trước kia ” không nhìn thấy phụ nữ” - "mù giới” và giờ đây chỉ cần bổ sung thêm "nhân vật nữ " vào thành phần đốì tượng nghiên cứu là đủ. Vấn đề là ồ tính đúng đắn của những luận điểm, phương pháp và phát hiện trong các khoa học đó. Vấn đề như đã nêu là các khoa học " về đàn ông, của đàn ông và do đàn ông làm ra" khó có thể phản ảnh trung thực, đầy đủ và chính xác về hiện thực xã hội và hiện thực tự nhiên nếu như không nắm bắt được bản chất giới của những hiện tượng đó. Bản chất giới thể hiện rất rõ, ví dụ, trong ngôn ngữ có "giông cái” và "giống đực", trong hành vi, cử chỉ có "nam tính" và "nữ tính", trong quan hệ giữa các cá nhân có "vai nam" và "vai nữ" và trong xã hội có "việc của đàn ông" và "việc của đàn bà", trong vũ trụ có "âm" và "dương" V.V.. Để tìm hiểu bản chất giới trong đối tượng nghiên cứu khoa học cần đổi mới lý luận, phương pháp luận và hệ thông khái niệm thích hợp. Như vậy rõ ràng là phụ nữ học đã phải có những lý luận và bằng chứng xác đáng lắm mói có thể thức tỉnh được các môn khoa học xã hội và nhân văn nhìn ra được vấn đề mới mẻ về phụ nữ và giới từ những điều tưởng như đã rõ cả. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại:

Phụ nữ học: tính độc lập và tính phong trào (p1)

Tính độc lập
Nghiên cứu phụ nữ ghi nhận tất cả những câu hỏi và ý kiến có tính chất phê phán nêu trên và coi đó là những thách thức cần vượt qua trên con đường khẳng định và phát triển phụ nữ học như một khoa học độc lập. Thực chất, như đã định nghĩa, phụ nữ học nghiên cứu các đặc điểm, tính chất, thuộc tính, tính quy luật và quy luật về sự nảy sinh, phát triển và biến đổi địa vị người phụ nữ trong xã hội.
So với xã hội học được định nghĩa là khoa học về quan hệ giữa con người và xã hội thì phụ nữ học có đối tượng nghiên cứu được xác định cụ thể và rõ ràng hơn nhiều, đó là quan hệ của phụ nữ với xã hội và nam giới. Định nghĩa đó cho thấy phụ nữ học có vị trí tương đối độc lập trong hệ thông các khoa học xã hội và nhân văn. Có lẽ còn quá sớm và quá vội vàng để nói rằng nghiên cứu phụ nữ không có những lý thuyêt lớn hay nghiên cứu cơ bản làm nền tảng. Trong khi đó sẽ là quá muộn để không thể không nhận thấy rằng tất cả các lý thuyết xã hội và lý thuyết xã hội học đồ sộ, ví dụ của Mác ( Karl Marx), Dukhêm (Emill Dukheim) và Vebơ (Max Weber) đều nói tối những vấn đề của phụ nữ.
Rõ ràng là nghiên cứu phụ nữ không chỉ dựa vào những tư tưởng xã hội vĩ đại của Mác và những người cùng chí hướng, không chỉ vận dụng các khái niệm và phương pháp luận của những lý thuyết xã hội học của Dukhêm và Vebơ. Các lý thuyết về cơ cấu xã hội, hệ thông xã hội, mạng lưới xã hội, tương tác xã hội, hành động xã hội, vai xã hội v.v..không xa lạ với nghiên cứu phụ nữ. Điều quan trọng là phụ nữ học còn phát triển những luận điểm, phương pháp luận và thực hiện những công trình hết sức cơ bản. Ví dụ, nghiên cứu lý luận của Doroxi Smit ( Dorothy Smith) chỉ ra những vấn để kinh nghiệm phụ nữ trong xã hội hiện đại với tư cách là một đôi tượng nghiên cứu khoa học và công trình nghiên cứu của Boserup ( Ester Boserup) vể vai trò quan trọng của phụ nữ trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển. (Còn tiếp…..)
Đọc thêm tại:

Phụ nữ học với tư cách là một lĩnh vực giảng dạy (P5 - hết)

Thứ hai, nghiên cứu giới tập trung vào môi liên hệ giữa nữ và nam, tức là hành vi xã hội cả hai giới đều được coi là đối tượng nghiên cứu cơ bản. Nhưng những khác nhau về kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa giữa nữ và nam được nghiên cứu giới xem xét không phải khi nào cũng với nghĩa là những quan hệ bất bình đẳng. Vậy điều đó phải chăng trái ngược với mối quan tâm của phụ nữ học? Vì nghiên cứu phụ nữ tập trung vào phụ nữ, hướng tới việc giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự bất bình đẳng nam nữ.
Nói cách khác, nếu khái niệm giới được được dùng thay cho khái niệm phụ nữ, nghiên cứu giới thay cho nghiên cứu phụ nữ thì những vấn đề phụ nữ cần được xem xét và giải quyết như thế nào? Liệu vấn đề quyền lực sự lệ thuộc của phụ nữ nói riêng và vấn đề giải phóng phụ nữ nói chung có còn tính thời sự không? Trong khi đó thân phận người phụ nữ, địa vị xã hội của họ luôn luôn là vấn đề mà xã hội phải quan tâm.
Nghiên cứu giới tỏ ra có ưu thế rõ rệt trong việc trả lời câu hỏi thứ nhất. Thực tế cho thấy các vấn đề của phụ nữ sẽ được giải quyết có hiệu quả hơn nếu cùng giải quyêt cả vấn đề của nam giới. Ví dụ như việc nâng cao sức khoẻ phụ nữ bằng cách giảm bớt gánh nặng đẻ mau đẻ nhiều của phụ nữ nông thôn. Các cuộc vận động sinh đẻ kê hoạch trước đây do tập trung vào phụ nữ đã tỏ ra kém hiệu quả. Ngày nay các nhà làm chính sách cũng như những người làm công tác dân số và gia đình hiểu rõ hơn ai hêt là không chỉ cần thu hút phụ nữ tham gia mà còn cần tập trung vào vận động tuyên truyền nam giới thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
Mặc dù nghiên cứu phụ nữ có ưu thế trong việc trả lời câu hỏi thứ hai song xu hướng "liên ngành” vẫn là một mặt mạnh của phụ nữ học. Có lẽ vì ý thức được điều này mà hiện nay các nhà nghiên cứu có xu hướng vận dụng quan điểm giới đốì với vấn đề phụ nữ, và nói tới bất bình đẳng giới, công bằng giới khi nghiên cứu cả nam và nữ.
Ngoài những thách thức liên quan tới đối tượng nghiên cứu của phụ nữ học nói trên còn có những thách thức đôi với lý luận và phương pháp luận của nghiên cứu phụ nữ. Một số nhà nghiên cứu gần đây nói tới những "lỗ hổng" trong nghiên cứu phụ nữ. Họ cho rằng trong nghiên cứu phụ nữ hay phụ nữ học không có nghiên cứu cơ bản hay lý thuyết lớn, tức là cơ sở nhận thức luận và lý luận làm nền tảng; rằng nghiên cứu phụ nữ chủ yếu dựa vào phương pháp miêu tả và định tính. Có nghĩa là phải chàng nghiên cứu phụ nữ là phong trào?
Tất cả những lập luận này đặt ra câu hỏi liệu nghiên cứu phụ nữ hay phụ nữ học có phảị là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học độc lập không?


Phụ nữ học với tư cách là một lĩnh vực giảng dạy (P4)

Điều đó đặt ra sự cần thiết phải xem xét lại những hiểu biết chung, khái quát về phụ nữ. Ví dụ liệu có phải tất cả các (loại) gia đình đều có yếu tố gia trưỏng không? Liệu có phải ở mọi nơi phụ nữ đều bị lệ thuộc vào nam giới hay chịu hậu quả của quan niệm gia trưởng không?
Nêu các nghiên cứu phụ nữ cần chuyên sâu, cần cụ thể vì tính đa dạng của đối tượng nghiên cứu thì môi trường thống nhất của lĩnh vực nghiên cứu phụ nữ là gì? Liệu vị thế xã hội của phụ nữ có thể đáp ứng yêu cầu là môi trường chung cho các nghiên cứu về phụ nữ? Nói cách khác, các nghiên cứu phụ nữ có thể tập trung vào những vấn đề, khía cạnh khác nhau nhưng đều thông nhất ở mục tiêu là làm rõ vị thế xã hội của phụ nữ.
Sự thách thức của các nghiên cứu về giới. Từ giữa những năm 80, các nghiên cứu về giới bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Trong các đề tài nghiên cứu và các ấn phẩm, thuật ngữ "giới" trỏ nên phổ biến, gần như thay cho từ "phụ nữ". Vì vậy có cảm tưởng là nghiên cứu phụ nữ đang bị chìm dần trong các nghiên cứu về giớ. Cũng có cảm giác là nghiên cứu về phụ nữ và nghiên cứu giới đang chồng chéo lên nhau.
Vậy thực chất nghiên cứu giới là gỉ?
Nếu nghiên cứu phụ nữ lấy phụ nữ làm đối tượng nghiên cứu và nghiên cứu phụ nữ theo quan niệm của phụ nữ và vì phụ nữ, thì nghiên cứu giới nhằm vào mối quan hệ xã hội giữa hai giới nữ và nam. Đó có thể là mối tương quan về mặt kinh tế, quyền lực trong gia đình và xã hội. Đó có thể là mối quan hệ giữa hai giới trong việc nắm bắt các cơ hội, tiếp cận các nguồn lực và sử dụng các thành quả làm ra.
Vậy có vấn đề gì cần chú ý do các nghiên cứu giới đặt ra? Thứ nhất nghiên cứu giới cũng đề cập đến các vấn đề của phụ nữ do vậy trọng tâm nghiên cứu là phụ nữ bị mờ nhạt. Thậm chí đặt ra câu hỏi là liệu có nhất thiết phải có nghiên cứu tập trung vào phụ nữ, tức là nghiên cứu phụ nữ có thực sự cần thiết không? (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/08/phu-nu-hoc-voi-tu-cach-la-mot-linh-vuc_16.html


Phụ nữ học với tư cách là một lĩnh vực giảng dạy (P3)

Những thách thức đối với phụ nữ học với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu
Với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu khá đặc biệt, phụ nữ học đang đứng trước những thách thức nảy sinh từ chính quá trình phát triển của mình.
Có cảm tưởng là phụ nữ học đang gặp những khó khăn lớn trong việc xây dựng và phát triển môt cách nhìn hay một cách tiếp cận phụ nữ chung thống nhất. Lý do đơn giản là càng ngày các nhà phụ nữ học càng ý thức rõ hơn về tính đa dạng, phong phú của các đối tượng nghiên cứu là phụ nữ.
Có cả cảm giác và nguy cơ là phụ nữ học đang bị lấn át, đang bị hoà tan vào các nghiên cứu khác. Trong số đó có nghiên cứu về giới, nghiên cứu về gia đinh hay các trào lưu nghiên cứu khoa học khác.
Vậy thực chất những thách thức trong nghiên cứu phụ nữ hiện nay là gì?, Phụ nữ học có những chiến lược như thế nào để đốỉ phó với những thách thức đó? Đây là những câu hỏi cấp bách đang đặt ra đốĩ với những người quan tâm đến lĩnh vực này.
Thực tế là sau hơn hai thập kỷ phát triển mạnh mẽ và tự tin, phụ nữ học ngày nay đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới. Đó là giai đoạn phụ nữ học tự đánh giá về thực trạng nhận thức, lý luận và phương pháp nghiên cứu. Đó là giai đoạn phụ nữ học xác định vị trí mới của mình trong mối quan hệ với các lĩnh vực nghiên cứu khác.
Đó cũng là giại đoạn phụ nữ học phải trằ lời những câu hỏi phức tạp hơn nảy sinh từ thực tế cuộc sống. Chỉ bằng những việc làm cụ thể như vậy phụ nữ học mới có thể chứng tỏ là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học sông động và thiết thực.
Tính đa dạng của đối tượng nghiên cứu là một thách thức đối với ' nghiên cứu phụ nữ. ở đây muốn nói tối Sự khác biệt, sự phân hoá và sự biến đổi khi tiếp cận những vấn đề phụ nữ. Ví dụ, khi nghiên cứu vai trò làm mẹ của người phụ nữ, người nghiên cứu phân biệt sự khác nhau về ý nghĩa và tầm quan trọng của vai trò đó do những yếu tố lịch sử và văn hoá khác nhau chi phối. Hoặc khi phân tích đòi sống kinh tế của phụ nữ, người nghiên cứu nhìn thấy sự phân hoá giàu nghèo, và chỉ ra sự khác nhau ở các nhóm phụ nữ sông tại những khu vực địa lý, hành chính khác nhau, V.V.. Nói cách khác, nghiên cứu phụ nữ không thể tiếp cận phụ nữ nói chung mà từng nhóm phụ nữ cụ thể với những đặc điểm giai cấp, dân tộc, lứa tuổi với các điều kiện, kinh nghiệm sông khác nhau. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/08/phu-nu-hoc-voi-tu-cach-la-mot-linh-vuc_12.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tin phụ nữ, phu nu va gia dinh

Phụ nữ học với tư cách là một lĩnh vực giảng dạy (P2)

Đây là tỷ lệ hàm lượng tri thức chuyên ngành phụ nữ học không thấp. Và đáng chú ý là các môn về phụ nữ này đã bám sát vào vấn đề có tính thời sự trong và ngoài nước như sức khoẻ, việc làm, luật, lịch sử và chính sách xã hội đối với phụ nữ.
Ngoài ra, các môn học về gia đình, về kinh tế, về doanh nghiệp và một số môn học khác đều có thể liên hệ với những vấn đề về phụ nữ. Những chủ đề dưới đây thưòng thấy trong phụ nữ học và các môn học khác.
1. Khái niệm gia trưởng:
Các môn học về phụ nữ như nhập môn phụ nữ học, xã hội học phụ nữ thường tập trung vào chủ đề này. Khái niệm gia trưởng bộc lộ qua các cách thức tổ chức đòi sông xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá dựa trên cơ sỏ giới tính. Phân tích chủ đề này nhằm làm rõ sự lệ thuộc của phụ nữ và sự thông trị của nam giới trong gia đình và xã hội, chỉ ra nguồn gốc, hậu quả và sự thay đổi hiện tượng này trong lịch sử.
2. Định kiến về vai trò của giới:
Các môn học về phụ nữ thường khai thác chủ để này bằng cách giới thiệu, phân tích những cách hiểu, những hình ảnh về phụ nữ. Ví dụ văn học, tôn giáo, phim ảnh hay quảng cáo. ý tưởng chính ở đây là giúp người học biết phân tích, phát hiện những định kiến, những thái độ có tính chất rập khuôn đôi với vai trò của nữ hoặc nam, hiểu được cơ chế hình thành cũng như những cách thức có thể làm thay đổi các định kiến và quan niệm rập khuôn đó.
3. Những khác biệt về giống và giới:
Chủ đề này thường được nêu trong tâm lý học về phụ nữ và tâm lý học về giới. Phụ nữ học tập trung so sánh sự khác biệt giữa nam và nữ qua việc chỉ ra các nguyên nhân xã hội để góp phần xoá bỏ định kiến phân biệt đối xử nam nữ.
4. Tình dục và sức khoẻ:
Đây là chủ đề nói tới những khía cạnh hành vi và đời sông tình dục cũng như mang thai và sinh con. Vấn đề bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em cũng là một nội dung quan trọng.
5. Gia đình:
Khác với tâm lý học gia đình, phụ nữ học chú trọng xem xét các loại hình gia đình, cơ cấu gia đình, chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của chúng đổi với phụ nữ. Phụ nữ học đặc biệt quan tâm đến sự hình thành loại gia đình bình đẳng và chỉ ra những điều kiện xã hội cần thiết để hình thành loại gia đình đó.
Tương tự như tâm lý học gia đình và xã hội học gia đình, phụ nữ học chú trọng tới vấn đề xã hội hoá trong gia đình. Ví dụ vấn đề trẻ em học hay nhập vai nam vai nữ như thế nào trong gia đình.
6. Lao động và việc làm:
Phụ nữ học chỉ ra nhu cầu đánh giá và xem xét lại cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề lao động và việc làm đôi với phụ nữ. Ví dụ có nhất thiết phải đưa ra các chính sách ưu tiên nữ trong tuyển chọn và trả công lao động khống? Lao động của phụ nữ bao gồm cả hoạt động "không công", tức là không được trả công bằng tiền như nội trợ và chăm sóc con trẻ trong gia đình và hoạt động "có công ", tức là có thu nhập bằng tiền ngoài gia đình.

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/08/nhung-thach-thuc-oi-voi-phu-nu-hoc-voi_21.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữphụ nữ và gia đình

Phụ nữ học với tư cách là một lĩnh vực giảng dạy(Phần 1)

Như đã biết, Đại học Mỏ - Bán công thành phố Hồ Chí Minh đã khai giảng các khoá đào tạo cử nhân chuyên ngành phụ nữ học; một số trường khác đã đưa môn phụ nữ học vào giảng dạy trong các chương trình đào tạo chính khoá cho sinh viên. Môn nghiên cứu phụ nừ có thể được xây dựng, giảng dạy dưới nhiều hình thức và bằng nhiều phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào đối tượng người học. Song nhìn chung, Phụ nữ học với tư cách là một lĩnh vực giảng dạy và đào tạo hướng tới những mục tiêu chung cơ bản sau đây:
Trang bị tri thức về phụ nữ, về vị trí và vai trò phụ nữ;
Khuyến khích nghiên cứu phụ nữ, khơi dậy nhu cầu tìm kiếm, bổ sung tri thức khoa học, lịch sử, văn hoá về phụ nữ.
Vận động và giáo dục nhằm khắc phục tệ phân biệt đối xử nam nữ và tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Phụ nữ tham gia vào chương trình phụ nữ học sẽ:
Nâng cao tính tự chủ, độc lập.
Xoá bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti.
Như vậy nét độc đáo của việc giảng dạy phụ nữ học là ở chỗ tạo ra những biến chuyển tích cực trong tư tưởng, thái độ và hành vi của người học đối với các vấn đề về phụ nữ. Đồng thòi phụ nữ học còn khuyến khích người học chia sẻ và phát hiện những hiểu biết, kinh nghiệm về vị trí, vai trò phụ nữ.
Thực hiện mục tiêu này, việc giảng dạy môn phụ nữ học thường do ba yếu tố cấu thành: yếu tố nghiên cứu, yếu tố phương pháp luận và phựơng pháp cụ thể, và yếu tố phát hiện vấn đề mới.
Các yếu tố này bộc lộ và xuyên suốt các chủ đề cơ bản của phụ nữ học. Các môn học về phụ nữ dành cho cử nhân xã hội học, chuyên ngành phụ nữ học, Đại học Mỏ - Bán công Thành phố Hồ Chí Minh gồm nhập môn phụ nữ học 3 học trình (một đơn vị học trình gồm 15 tiết học), sức khoẻ bà mẹ và trẻ em 4 học trình, phụ nữ và việc làm - 4, lich sử phong trào phụ nữ Việt Nam -3. Phụ nữ và các chương trình nâng cao thu nhập - 9, vấn đề bảo vệ nhân phẩm phụ nữ - 4, lịch sử phong trào phụ nữ trên thế giới - 3, chính sách đối với phụ nữ Việt nam - 2, hiện trạng phụ nữ Việt nam - 4, phụ nữ và pháp chế xã hội -5. Tổng cộng có 41 đơn vị học trình chuyên về phụ nữ học trên tổng số 111 đơn vị học trình ( chiêm 36,9% ) mà một sinh viên cần học để lấy bằng cử nhân xã hội học, chuyên ngành phụ nữ học. (Còn tiếp…..)




Ý nghĩa lý luân và thực tiễn của nghiên cứu phụ nữ (p2 - hết)

Ví dụ, để đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong nền kinh tế chuyển đổi của Việt nam hiện nay, các nhà' kinh tế cần phải phát triển các phương pháp mới để thu thập và xử lý thông tin. Vì phần lốn các hoạt động kinh tế của phụ nữ hiện nay đang diễn ra trong khu vực phi chính thức mà cơ chế và hệ thông thông tin chính thức hiện nay chưa thể bao quát được đầy đủ. Thậm chí cần phải làm rõ hơn một số khái niệm vẫn được coi là cơ bản của kinh tế học như "lao động", "việc làm", và "sản xuất'. Những khái niệm này chủ yếu được xem xét trong mối quan hệ với hàng hoá, thị trường. Nhưng có phải tất cả các hoạt động của phụ nữ ví dụ như công việc nội trợ hay nuôi dạy con cái đều được xã hội tính công không? Có lẽ vì ý thức được điều này nên gần đây đã xuất hiện khái niệm " lao động gia đình ", " nghề nội trợ”.
Nghiên cứu phụ nữ có thể bắt đầu từ vấn đề về phụ nữ, của phụ nữ và vì phụ nữ. Nhưng xã hội gồm cả nam giới và phụ nữ, vì vậy nghiên cứu phụ nữ thưòng liên quan tới những vấn đề về nam giới, về xã hội và về những phương pháp đang sử dụng để giải quyết các vấn đề đó. Trong nghiên cứu phụ nữ có thể sử dụng các công cụ hay phương pháp đã có sẵn, đồng thời cũng cần
Phải xây dựng và phát triển những phương pháp mới; nghiên cứu phụ nữ có thể và cần đặt trong quan hệ đối sánh với nam giới và trong bối cảnh kinh tế, xã hội cụ thể. Vì vậy có thể nói phụ nữ học là cần thiết để vừa hoàn thiện các phương pháp đã có, vừa tìm ra các phương pháp mới làm giàu kho tàng phương pháp luận nghiên cửu khoa học xã hội.
Với cách nhìn sâu rộng và mềm dẻo như vậy, nghiên cứu phụ nữ góp phần đưa ra luận cứ so sánh, đánh giá, giải quyết và đặt ra những vấn đề mới không chỉ về phụ nữ mà còn về nam giới và xã hội nói chung.
Như vậy, nghiên cứu phụ nữ là cần thiết để hiểu biêt về phụ nữ và để giải phóng phụ nữ thì tất yếu cũng cần thiết cho việc hiểu biết và giải phóng cả nam giới.

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/08/phu-nu-hoc-voi-tu-cach-la-mot-linh-vuc.html


Ý nghĩa lý luân và thực tiễn của nghiên cứu phụ nữ (p1)

Nhiều người lập luận và tin rằng các khoa học khác đều nghiên cứu cả nam và nữ, rằng các quy luật tìm ra đã được khái quát, và đúng đối với mọi người, không phân biệt nam nữ. Hoá ra không phải như vậy. Hoá ra, chúng ta hiểu biết rất ít về phụ nữ, một phân nửa nhân loại. Phụ nữ không được nghiên cứu nhiều và hơn thế, nếu có, thì chủ yếu bằng cách nhìn của nam giới. Có nhiều điều về phụ nữ còn bị hiểu hòi hợt, sai lệch không chỉ trong tư tưởng mà cả trong khoa học. Có thể lấy tư tưởng trọng nam khinh nữ, thói quen xem thường khả năng của phụ nữ làm một ví dụ. Đây là tư tưởng phong kiến đã ăn sâu trong đầu óc của nhiều người, nhiều gia đình, nhiều tầng lớp xã hội và nhạt là trong nhiều người đàn ông.
Ngay cả một số lý thuyết giáo dục học hiện đại vẫn còn xuất phát từ luận điểm cho rằng nam là tích cực và mạnh mẽ, còn nữ là thụ động và yếu đuối, nam thiên về lý trí còn nữ thiên về tình cảm. Từ đó những người theo lý thuyết này đề ra những phương pháp giáo dục những đặc điểm phẩm chất tương ứng ở nam và nữ. Thực ra những lý thuyết như vậy đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng khi tin rằng nam và nữ có đặc điểm khác nhau chỉ vì họ rất khác nhau về giống, tức là về mặt sinh học.
Vì vậy, cần nghiên cứu phụ nữ để phê phán và giáo dục, vận động và thuyết phục nhằm xoá bỏ dần tư tưởng bảo thủ lạc hậu đó. cần nghiên cứu phụ nữ để xây dựng tư tưởng tiến bộ tích cực về vai trò của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nghiên cứu phụ nữ phát hiện thấy sự khác biệt, ví dụ, về trình độ học vấn, về thu nhập giữa nam và nữ. Những bất bình đẳng này chủ yếu liên quan tới các yếu tố xã hội như điểu kiện kinh tế và các cơ may xã hội. Điều đó có nghĩa là bất bình đẳng nam nữ có thể bị xoá bỏ và công bằng xã hội về giới hoàn toàn có thể thiết lập được nếu tạo được môi trường kinh tế xã hội bình đẳng.
Môn nghiên cứu phụ nữ là cần thiết để chỉ ra những quan niệm lệch lạc, sai trái về phụ nữ. Nghiên cứu phụ nữ là cần thiết để vạch ra những nguyên nhân và hậu quả của những hiểu biết không đúng đắn đó. Và cuối cùng, nghiên cứu phụ nữ góp phần hiệu chỉnh và tìm ra tri thức đúng đắn hơn về phụ nữ nói riêng và xã hội nói chung. (Còn tiếp…..)

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/08/y-nghia-ly-luan-va-thuc-tien-cua-nghien_21.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tin phụ nữ, phu nu va gia dinh

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

Nghiên Cứu Phụ Nữ Và Phụ Nữ Học (P8)

Các khái niệm công bằng xã hội, bình đẳng nam nữ và phát triển năng lực đều được sử dụng triệt để trong việc phân tích thực trạng đời sông của người phụ nữ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đối với linh vực tổ chức quản lý và công tác xã hội, các khái niệm cơ bản trên được xem xét cùng với những khái niệm như vị thế xã hội, tính tích cực xã hội của phụ nữ. Các khái niệm này chỉ vị trí, vai trò và mức độ tham gia của phụ nữ trong công tác hoạch định chính sách, đường lối, ra các quyết định tổ chức, quản lý, thực hiện và giám sát, đánh giá các chính sách, quyết định đó.
Có thể đo lường vị thế xã hội, tính tích cực xã hội bằng cách sử dụng các chỉ báo như số lượng phụ nữ tham gia vào các cấp quản lý từ trung ương đến cơ sở; sô lượng cán bộ nữ trong các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, luật pháp, V.V..
Đôi với lĩnh vực kinh tế thì các khái niệm như lao động, việc làm và thu nhập là đặc biệt quan trọng. Vì các khái niệm này không những cho biết thực trạng đời sống vật chất của người phụ nữ mà còn giúp nắm bắt được hệ quả của chứng đối với đời sông văn hoá, tinh thần của họ. Nhò vậy có thể giúp tìm hiểụ mối tương tác giữa các chính sách kinh tế và chính sách xã hội đối vổi phụ nữ và gia đình.
Khái niệm học vấn, tay nghề và sức khoẻ, về mặt lý luận và nghiên cứu là hoàn toàn thích hợp để nắm bắt và đánh giá trình độ phát triển năng lực của người phụ nữ. Về mặt thực tiễn, điều quan trọng là phân tích mối liên hệ giữa một bên là các mặt của phát triển như học vấn, tay nghề và sức khoẻ và một bên là các vấn đề kinh tế xã hội của phụ nữ. Mốì liên hệ này cho phép khẳng định hơn một lần nữa rằng phát triển năng lực của phụ nữ không chỉ là mục tiêu của chính sách xã hội mà còn là động lực, con đường, biện pháp và điều kiện để thực hiện công bằng và bình đẳng nam nữ.
Công bằng xã hội, bình đẳng nam nữ không thể thực hiện được bằng những mong muôn tôt đẹp, càng không thể thực hiện được bằng những lời nói suông. Công bằng xã hội, bình đẳng nam nữ, hạt nhân của chính sách xã hội chỉ có thể thực hiện được bằng cách phát huy được yếu tố con người, huy động được tài năng, trí tuệ và sức lực của mọi thành viên trong xã hội, phụ nữ cũng như nam giới để phát triển kinh tế. Đên lượt mình, kinh tế càng phát triển thì càng có điều kiện đê xây dựng xã hội công bằng văn minh. Nếu không, cùng lắm cũng chỉ là chia đều sự nghèo nàn, công bằng trong lạc hậu, mà trong giai đoạn hiện nay điều đó thật khó chấp nhận.

Đọc thêm tại: http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/08/y-nghia-ly-luan-va-thuc-tien-cua-nghien.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: phụ nữphụ nữ và gia đình