Tính khách quan của nghiên cứu
Như đã nói ở trên, các nhà nghiên cứu có xu hướng sử dụng các phương pháp thu thập cứ liệu vổi số lượng mẫu lớn ( N-lớn) và phân tích cứ liệu dựa trên các thuật toán. Với rất nhiều số liệu được biểu diễn bằng các hình thức khác nhau, phương pháp này tỏ ra khách quan hơn so với phương pháp định chất (n-nhỏ), thường được trình bày dưới dạng các câu chuyện cụ thể. Thuật toán và việc thao tác với các con số thường là khó hiểu với nhiều người đọc và vì thế, dễ gây ấn tượng về một kết quả mang tính khoa học và khách quan.
Như đã biết, nghiên cứu N- lớn, hay các khảo sát định lượng thường -dựa trên một cơ sỏ lý luận nhất định. Lý luận, như được sử dụng trong khoa học xã hội, đơn giản chỉ là sự giải thích cho một hiện tượng nào đó và mốỉ quan hệ giữa các yếu tố liên quan. Mục đích của quá trình nghiên cứu là tập hợp và xem xét các bằng chứng để kiểm tra tính hợp lý của một giải thích như thế. Ý kiến tranh luận ở đây cho rằng chính trong việc nêu ra và trình bày lý thuyết có nhiều nguồn nhập liệu chu quan hơn bất kỳ một giai đoạn nào khác của quá trình
nghiên cứu (T. E. Jayaratne, 1980)(#) Đặc biệt là nếu những lý thuyết này được đúc rút và tổng kết chủ yếu từ kinh nghiệp của đàn ông. Như vậy, một nghiên cứu có bề ngoài khác quan không hẳn đã là khách quan như người ta vẫn nghĩ về nó.
Với lý do nếu trên, các nhà nghiên cứu phụ nữ đặt vấn đề sử dụng phương pháp N-lớn với sự thận trọng. Bởi vì lý do khách quan mà người ta thường dựa vào đó để gạt ra ngoài các phương pháp n-nhỏ không phải khi nào cũng là xác đáng. Tương tự như vậy, các phương pháp n-nhỏ, dù bị coi là mang tính chủ quan hơn song nếu được nhận thức đầy đủ và có ý thức rõ ràng để khắc phục thì có thể mang lại những thông tin trung thực và khách quan hơn là người ta vẫn quan niệm. Khác vổi phần đông người đọc và người sử dụng các kết quả nghiên cứu thường bị ấn tượng bởi tính khách quan do các con số đem lại, nhà nghiên cứu phụ nữ hơn ai hết cần nhận thức đầy đủ về những mặt mạnh và yếu của từng phương pháp để có sự kết hợp tôì ưu, nhằm đem lại độ chân thực cao nhất cho các cứ liệu về phụ nữ.
Nhằm tránh lặp lại những hạn chế về phương pháp như đã nêu ở trên, các nhà phụ nữ học đã đưa ra một số nguyên tắc có tính hướng dẫn đối với các công trình nghiên cứu phụ nữ. Các nguyên tắc này dựa trên quan niệm coi nghiên cứu phụ nữ là một quá trình kiến tạo tri thức nhằm góp phần giải quyết những vấn đề thực tế, mang lại lợi ích cụ thể cho phụ nữ.
Những nguyên tắc đó bao gồm(*) :
Phụ nữ là người đồng hành trong việc tạo dựng tri thức chứ không đơn thuần là khách thể hay đôì tượng tiếp nhận tri thức.
Người nghiên cứu đóng vai trò vừa là học trò vừa là người hướng dẫn.
Nghiên cứu phụ nữ hướng tới sự biến đổi vì công bẵng xã hội và bình đẳng nam nữ.
Nghiên cứu phụ nữ là vì sự tiến bộ của phụ nữ chứ không phải là nghiên cứu bỏi phụ nữ. Nói cách khác, nam giới cũng có thể nghiên cứu phụ nữ.
Phụ nữ là một nhóm đa dạng, nghiên cứu phụ nữ cần quan tâm đến các yếu tố dân tộc, văn hoá, đẳng cấp, lứa tuổi...
Những phương pháp thu thập thông tin mà các công trình nghiên cứu phụ nữ đã vận dụng thường là sự kết hợp của một số trong các phương pháp sau đây.
Quan sát tại chỗ;
Gặp gõ và hỏi chuyện không chính thức;
Phỏng vấn sâu về các trường hợp cụ thể;
Thảo luận nhóm;
Điều tra bảng hỏi;
Câu chuyện về cuộc đời phụ nữ;
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét