Có
thể nói rằng, bất bình đẳng nam nữ trong gi đình được duy trì và lưu truyền từ
thế hệ này quạ thế hệ khác trước hết là ở trong quan niệm về hôn nhân và gia
đình và phẩm chất của người vợ, người chồng. Ví dụ trong khi có tới 32% số
người cả nam và nữ cho rằng "biết nội trợ giỏi" là một trong những
phẩm chất quan trọng nhất của người vợ thì chỉ có trên 6% số người này cho rằng đó cũng là phẩm chất quan
trọng nhất của người chồng. Nhưng có tới trên 72% cả nam và nữ tỏ ra rất nhất
trí và rất bình đẳng cho rằng người chồng và người vợ đều cần "khoẻ
mạnh" (ít nhất là vì lý do làm kinh tế), và vợ, chồng "đều có trách
nhiệm trong thu nhập gia đình" (Vũ Tuấn Huy, 1995).
Đáng chú
ý là, kiểu quan niệm rập khuôn như vậy về hình ảnh gia đình và vai trò giới
ngày nay vẫn còn khá phổ biến trong dư luận xã hội, trong quan niệm và định
kiến về khuôn mẫu của con trai, con gái. Ví dụ, trong khi cả con gái và con
trai đều cần phát triển phẩm chất "lao động tốt” - trên 43% số người được
hỏi đồng ý như vậy, thì chỉ có 9% số người trả lời cho rằng con trai cũng cần
"giỏi nội trợ”, trong khi đó, 37% số người đòi hỏi con gái dứt khoát phải
“giỏi nội trợ” (Phùng Hữu Phú và Lâm Bá Nam, 1994). Rõ ràng là ở đây cần có những chuyển biến thực sự sâu rộng trong môi trường văn hoá, hệ thông giá trị mới có thể dần dần hình thành những nét tích cực
có lợi cho bình đẳng nam nữ và vai trò
giới trong gia đình và xã hội.
Phụ nữ học về gia đình nghiên cứu sự hình thành và
biến đổi địa vị của người phụ nữ trong mối quan hệ của hôn nhân, gia đình và xã
hội. Ví dụ, phụ nữ học chỉ ra rằng những thay đổi căn bản trong đời sống gia
đình đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vị trí, vai trò của người phụ
nữ trong quan hệ với các thành viên gia đình. Vì vậy phụ nữ học vể gia đình cố
gắng nêu ra và phê phán những yếu tố, mầm mông gây bất bình dẳng nam nữ, đồng
thời sớm phát hiện và cổ vũ những nhân tố tích cực của công bằng xã hội về giới
trong đời sống gia đình.
Có thể
thấy, với một đối tượng nghiên cứu rõ ràng như vậy, phụ nữ học về gia đình khác
hẳn với những nghiên cứu khác. Ví dụ, các nghiên cứu chuyên về tộc người Việt
mới chỉ " lại cúi đầu lần nữa trên vấn đề gia đình... đê xem thử, thực ra
có gì, bên dưới một lớp sơn phủ ngoài những quan niệm có sẩn" (trích theo Tương Lai, 1995) Hoặc xã hội học
gia đình đang cố gắng nghiên cứu
"mọi thứ", từ cơ cấu, chức năng đến cuộc sống của tam giác gia đình
gồm bô", mẹ, con
trong mối quan hệ vối tam giác xã hội gồm cá nhân, gia đình và xã hội. Với ý
nghĩa đó, xã hội học gia đình khó có thể giải quyết những nhiệm vụ của phụ nữ học về gia đình.
Tóm lại, trong khi đôì với các nhà xã hội học gia đình
vẫn là "một thuật ngữ cực kỳ khó xác định, một thuật nhữ được định nghĩa lỏng lẻo nhât trong từ vựng xã hội
học".(Tương Lai, 1995) thì các nhà phụ nữ học đã sớm nhanh chóng xác định
rõ ràng đôi tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của mình. Đó là, phụ nữ học về gia
đình nghiên cứu, phát hiện và cổ vũ những nhân tố cải thiện địa vị người phụ nữ
trong gia đình nhằm góp phần làm cho hôn nhân và gia đình thực sự là cội nguồn
hạnh phúc cho mỗi cá nhân nữ cũng như nam và là nền tảng của sự phát triển xã
hội công bằng và văn minh.
