Ở nông thôn hiện
nay hầu như chưa có hệ thông quản lý, giám sát việc sử dụng các loại thuốc trừ
sâu, bệnh, các loại phân bón hoá học để hạn chế tác hại của chúng đối vói sức
khoẻ người lao động. Ngoài ra, trong nhiều năm qua, đặc biệt là từ sau khoán
10, công tác bảo hộ và vệ sinh lao động trước đây do hợp tác xã chịu trách nhiệm
nay hầu như bỏ trông hoặc phó mặc cho người lao động.
Trong khi đó, do thiếu thông tin, hạn chế
về nhận thức và đặc biệt là do khó khăn về kinh tế, cho nên hầu hết nông dân
không quan tâm đến vấn đề này hoặc nếu có cũng sơ sài, chiếu lệ.
Đáng chú ý là cũng làm nông nghiệp nhưng
điều kiện lao động của phụ nữ dân tộc kém hơn
so với các nhóm phụ nữ khác. Người dân miền núi thường phải sử dụng các công cụ
lao động rất thô sơ, lạc hậu.
Phụ nữ dân tộc vùng cao hầu như chưa có ý niệm về các công cụ cải tiến hay các
trang bị bảo hộ lao động. Vì vậy, công sức của họ bỏ ra thực hiện cùng một loại
công việc thường lớn gấp nhiều lần so với phụ nữ ở miền xuôi, ví dụ như việc
làm nương trên triền núi của phụ nữ H.Mông.
Tuyệt đại bộ phận phụ nữ dân tộc miền núi thường đi bộ xa vài ba cây số mối đến nơi làm việc và không ít
người phải ngủ lại nương rẫy vào mùa vụ.
Lao
đông nữ khu vưc ngoài quốc doanh tuy làm việc trong những điều kiện
lao động khá hơn so với nông dân, nhưng vẫn ở mức kém. Trong các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh cũng có sự phân hoá: điều kiện lao động, công tác bảo hộ lao động
ở các doanh nghiệp tư nhân kém hơn so với các hợp tác xã.
Kết quả cuộc điều
tra 120 thợ thủ công nữ tại 30 doanh nghiệp ở Hà Nội năm 1993 cho biết trên 50%
lao động nữ phải làm việc trong điều kiện không có lợi cho sức khoẻ (Bảng 1
và Biểu đồ 1 ).
Chật
|
Nóng
bức
|
Bụi độc
hai #
|
Tiếng ồn
|
|
Doanh nghiệp
tư nhân
|
44
|
50
|
54
|
-
|
HTX thủ công
nghiệp
|
20
|
26
|
42
|
10
|
Bảng 4.1: Tỷ lệ ý
kiến đánh giá về điều kiện làm việc của lao động nữ thuộc hợp tác xã và doanh
nghiệp tư nhân ( % )
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét