Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P21)

Rõ ràng mức sống hay thu nhập là quan trọng song không phải là yếu tố duy nhất có tác động đến nguyện vọng học tập của phụ nữ. Để thấy rõ hơn điều này, hãy xem vì sao mà nhóm phụ nữ còn lại, chiếm 35% số người trả lời đã tỏ ra đắn đo trước việc bày tỏ nguyện vọng học tập. Có bốn lý do chính thường được đề cập đến như sau : không thấy cần thiết, do tuổi cao, do hoàn cảnh gia đình và lo ảnh hưởng đến thu nhập. Điều này rất đáng quan tâm vì đây cũng là những nguyên nhân thường được phụ nữ nông dân và nữ công nhân khu vực ngoài quốc doanh nêu ra khi nói về việc bồi dứõng nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn. Hãy xem xét từng lý do.
Đứng đầu trong những lý do này là hiện tượng một số phụ nữ thấy việc học tập là không cần thiết. Vì sao lại có hiện, tượng này? Rõ ràng là trình độ chuyên môn, tay nghề của lao động nữ còn nhiều hạn chế trong khi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những yêu cầu cao về kỹ năng nghề nghiệp. Có thể giải thích nghịch lý này như thế nào?
Một trong những câu trả lời đáng tin cậy là việc đào tạo và bồi dưỡng chưa mang lại lợi ích thiêt thực và cụ thể cho người học. Thực vậy, liệu sau khi đào tạo và bồi dưỡng thì cơ hội tăng lương, hay cơ hội tìm hoặc chuyển đổi việc làm có tăng lên không ? Liệu nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề có phải là yêu cầu cấp thiết không? Hãy xem những người đã dự các khoá đào tạo và bồi dưỡng trả lời câu hỏi " thu nhập của chị có tăng lên không? Kết quả cho thấy chỉ có 32,3% số người được hỏi cho là có tăng, 58,1% cho là vẫn thế và 9,6% kém đi. Như vậy có tới gần 70% số người không nhìn thấy hiệu quả thiết thực của việc đào tạo thềm.
Mặc dù là chế độ tiền lương, tiền công không phải lúc nào cũng gắn với việc bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ. Tuy nhiên, trong bốì cảnh đòi sông kinh tế của phần đông người lao động còn nhiều khó khăn thì việc tính toán hiệu quả học tập từ phía cá nhân là một yêu cầu thực tế. Vì vậy vấn đề đặt ra không chỉ ở việc nâng cao chất lượng hiệu quả đào tạo và giáo dục nghề nghiệp , mà còn ở việc nâng cao trình độ công nghệ của lao động
và sản xuất.
Vấn đề này đang đặt ra hết sức cấp bách không chỉ trong ngành công nghiệp mà ngay đôi với nông nghiệp. Lấy ví dụ, việc giải phóng sức lao động trong nông nghiệp không làm tăng tốc độ cơ giới hoá mà trái lại, sức kéo trâu bò và sức người lại tăng lên. Trong vòng 4 năm, từ 1989-1993, số trâu bò của các hộ tăng 5 triệu con lên 6,4 triệu con, công cụ thô sơ dùng sức người và sức súc vật tăng từ 80 triệu chiếc lên 90 triệu chiếc. Tỷ lệ cơ giới hoá khâu làm đất giảm từ 22,6% diện tích gieo trồng (1,8 triệu ha) năm 1987 xuống 21% năm 1990 (1,6 triệu ha),  miền núi tỷ lệ này giảm từ 2,9% diện tích gieo trồng xuống 0,6%, ở trung du từ 7,9% xuống 2,1%, đồng bằng sông Hồng 34,9% xuống 21%, miền Trung 14,7% xuống 7,2%. ở một số vùng miền Nam, mức độ cơ giới hoá giảm chậm, từ 24-25% xuống 22%. Nhưng ở đồng bằng sông Cửu Long lại tăng tới 35% (Nguyễn Điền, 1993, tài liệu đã dẫn).

(Tiếp phần sau…..)

Đọc thêm tại:



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét