Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Phụ nữ với sức khỏe, học vấn và trình độ chuyên môn (P2)

Các quan sát và số liệu đo lường đối với điều kiện lao động cho thấy một tỷ lệ khá cao lao động nữ phải làm việc trong môi trường mất vệ sinh và kém an toàn.
Ví dụ, số liệu nghiên cứu cho thấy có tới 51,2% nữ công nhân ngành đường sắt làm công việc nặng nhọc với nồng độ độc hại, bụi, nóng đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép; 74 % lao động nữ ngành công nghiệp nhẹ làm việc trong điều kiện có hại cho sức khoẻ (Đặng Lân, 1995
Để có bức tranh rõ nét hơn về điều kiện và môi trường lao động của phụ nữ có thể xem xét thed từng nhóm khu vực kinh tế và hoạt động nghê' nghiệp như sau:
Có thể nói, phu nữ nông dân hiện nay đang phải làm việc trong những điều kiện rất đáng lo ngại. Họ thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố mất vệ sinh và độc hại như nước bẩn, phân chuồng, phân bắc, thuốc sâu V.V.. Tuyệt đại đa số phụ nữ nông dân không sử dụng các trang bị bảo hộ lao động như quần áo bảo hộ, găng tay, ủng. Tại cuộc điểu tra tại xã Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội năm 1993, 100% số phụ nữ nông dân được hỏi chưa bao giồ dùng một loại găng tay bảo hộ nào.
Theo kết quả các cuộc điều tra tại xã Hoà Phú, Hoà Vang, Quảng Nam - Đà Nẵng và xã Khánh Hậu, Tân An, Long An có tương ứng 9,5% và 15,7% phụ nữ làm công việc phun thuốc trừ sâu cho lúa và hoa mầu( \ Do thiếu kiến thức và phương tiện bảo hộ, việc sử dụng thuốc trừ sâu đã gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và chức năng sinh sản của phụ nữ. Theo báo cáo của Trạm vệ sinh phòng dịch Bắc Thái, năm 1992, tỷ lệ ngộ độc của người tham gia phun thuốc trừ sâu lên tói 70 - 75%. Tại sao có tình hình trên ?
đây những nguyên nhân thuộc về chính sách cũng như về phía người lao động. Nông nghiệp nước ta còn sử dụng nhiều loại hoá chất và thuốc trừ sâu độc hại. Căn cứ vào cách phân loại của tổ chức Y tế Thế giới thì 23% loại thuốc trừ sâu đang sử dụng trên đồng ruộng Việt nam vụ hè thu năm 1993 thuộc nhóm cực kỳ độc hại, 19% rất độc và 52% độc . Lượng thuốc trừ sâu sử dụng có xu hướng tăng lên hàng năm do nhu cầu phát triển nông nghiệp. Trong khi đó, nhà nước và các cơ quan hữu quan chủ yếu mới chú ý đến công tác bảo hộ lao động cho công nhân sản xuất công nghiệp, chưa quan tâm thích đáng đến vấn đề bảo hộ lao động trong sản xuất nông nghiệp.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét