Thứ hai, khoảng
cách về trình độ học vấn của nam và nữ giứã nông thôn và thành thị là khá lớn.
cả nam và nữ ở nông thôn đều bị thiệt thòi trong việc học hành. Tỷ lệ dân số nam, nữ
nông thôn chưa tới trường, hoặc chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở đều cao hơn so
với tỷ lệ tương ứng ở thành thị. Trong khi đó tỷ lệ dân số có trình độ cao đẳng,
đại học trở lên ở nông thôn chỉ bằng dưới 1/3 so với ở thành thị.
Nữ ở nông thôn
ít có cơ hội hơn hẳn nữ ở thành thị. trong việc đạt tới trình độ học vấn trung
học. Trong khi tỷ lệ nữ tốt nghiệp phổ thông cơ số ở thành thị và nông thôn
không chênh lệch bao nhiêu, 22,4% và 21% thì tỷ lệ nữ ở nông thôn
tốt nghiệp phổ thông trung học là 3,3%, chưa bằng 1/3 so với tỷ lệ nữ ở thành
thị là 11,8%.
Kinh tế hộ phát
triển cũng làm cho trẻ em gái sớm phải tham gia lao động để tạo thêm thu nhập
cho gia đình, ở những nhà đông con, thiếu lao động, có thu nhập
thấp,
trẻ em gái thưòng phải nghỉ học sớm hơn trẻ em trai. Từ năm 1988 đến năm 1991,
nữ học sinh trung học đã giảm tối 42%; tỷ lệ học sinh nữ cấp 3 giảm từ 47% năm
học 1990 - 1991 xuống còn 43% năm học 1992 - 1993.
Tỷ lệ bỏ học cao
dẫn
đến số năm đi học của phụ nữ thấp. Số nàm đi học trung bình của người dân tính
trong cả nước là 5,4 năm trong khi đó nữ là 4,9 nam là 5,9. Trình độ học vấn có
sự khác biệt lớn giưã các vùng, miền và giưã hai giới.
Tình trạng phụ nữ
ít đi học hơn nam giới bắt đầu ngay ở tuổi nhỏ. Tỷ lệ trẻ em gái ở nhóm tuổi 10
- 14 không đi học đông hơn nhiều so với trẻ em trai (Bảng 7).
Bảng 7 : Tỷ lệ
trẻ em trai và gái không đến trường theo tuổi (%)
Tuổi 5 - 9
|
Tuổi 10 - 14
|
|
-Gái
|
35,6
|
26,2
|
-Trai
|
36,1
|
20,2
|
Nguồn: Báo cáo
của Bộ Gi áo dục và Đào tạo, 1992, trích 'theo Thái Đào, Báo cáo tại Hội nghị tổng
kết 10 năm 1985-1995 sự tiến bộ của phụ nữ, Hà nội, 3/1995, tr.4.
(Tiếp phần
sau…..)
Đọc thêm tại:
Đọc thêm tại:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét