Dân số không biết chữ tập trung nhiều ỗ vùng núi, vùng đồng bào dân tộc, chiếm gần 38% trong tổng số 8 triệu người mù chữ trong cả nước. Đối với hầu hêt các dân tộc ít người, trừ người Hoa, tỷ lệ không biết chữ (chữ Việt) còn cao và có dao động lớn giưã các dân tộc. Ví dụ, tỷ lệ không biết chữ ở người HMông, Lahủ, Colao là trên 90%, Bana 72%, Xêđăng 61,7%, Coho 61,2%, Eđe 52% VV.. Phụ nữ các dân tộc ít người như H.Mông, Bana hầu hết không biết chữ.
Trong những năm qua, mặt bằng dân trí ở nước ta được cải
thiện không nhiều. Năm 1992, số người chưa có trinh độ phổ thông cơ sở
là 49,9%; số tốt nghiệp phổ thông cơ sở là 31,3%, tốt nghiệp phổ thông trung học.8%,
trung học chuyên nghiệp 2,5% và cao đẳng, đại học trở
lên chỉ chiếm 1%. Số liệu khảo sát mức sống dân cư Việt Nam 1992-1993
cho biết tỷ lệ không biết cả đọc lẫn viết của dân so nữ từ
10 tuổi trở lên là 15% so với của nam là 7%.
Việc nâng cao trình độ dân trí và chất lượng giáo dục,
đào tạo vì vậy đã được coi là quốc sách hàng đầu. Tuy nhiên, việc thực hiện quốc
sách này đang phải đương đầu với những vấn đề kinh tế - xã hội nan giải.
Thách thức lớn nhất là quy mô dân số lớn,
phát triển nhanh và cơ cấu trẻ. Con số 28 triệu trẻ em dưới 14 tuổi là một sức
ép " quá tải "đối với hệ thông giáo dục, đào tạo hiện nay.
Trong khi đó, bản thân ngành giáo dục - đào tạo đang gặp
nhiều khó khăn trong việc nâng cao số lượng và chất lượng giáo dục đào tạo.
Vấn đề chính trong những năm gần đây là tỷ lệ học sinh bỏ
học cao và tình trạng thiếu giáo viên kéo dài, cũng như giáo viên có chất lượng
thấp.
Theo số liệu khảo sát mức sống dân cư
thì tỷ lệ bỏ học của trẻ em từ 6 đến 14 tuổi chỉ có 8,9%, song trên thực tế tỷ
lệ này cao hơn rất nhiều và có xu hướng gia tăng ở tất cả các cấp (Bảng 4. 8).
Bảng 4.8 : Tỷ lệ hoc sinh bỏ hoc theo câp hoc, năm học 1985 -
1986 và 1991 - 1992 (%)
|
Năm học
|
Cấp I
|
.Cấp II
|
Cấp III
|
|
(lớp 1-5 )
|
( Lớp 6-9)
|
(lớp 10 - 12)
|
|
|
1985 - 1986
|
10,3
|
11,4
|
9,6
|
|
1991 - 1992
|
13,4
|
32,0
|
1 14,5
|
Nguồn : Báo cáo Viện khoa học giáo dục, trích theo
Kim Dung, báo Nhân dân số ngày 12/2/1993.
Đáng lưu ý là trong số trẻ bỏ học, học sinh nữ chiếm
khoảng 64%.
Tình trạng thiếu giáo viên có xu hướng gia tăng. Nếu năm
học 1991 - 1992, cả nước thiếu 42.000 giáo viên cấp I và II, thì năm học 1993 -
1994, con số này là 60.000 người (Bảng 4.9).
Bảng 4.9 : Sốlượng giáo viên bị thiếu năm học 1991 -
1992 và 1993 - 1994 ( người )
|
Năm học
|
Giáo viên cấp I
|
Giáo viên cấp II
|
Tổng số
|
|
1991 - 1992 (1)
|
40 000
|
2 000
|
42 000
|
|
1993 - 1994 (2)
|
55 710
|
4 290
|
60 000
|
Nguồn : (1) Theo Đinh Gia Phong, Vụ trưỏng Vụ Giáo dục
phổ thông, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp trả lời phỏng vấn Báo
Nhân Dân sốngày 5/9/1991.
(2) Theo Nguyễn Ngọc Chụ, " Giáo
dục và thời đại”, số 11, 8/ 1994.
(Tiếp phần
sau…..)
Đọc thêm tại:
- http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/09/phu-nu-voi-suc-khoe-hoc-van-va-trinh-o_56.html
- http://tapchiphunu365.blogspot.com/2014/10/phu-nu-va-gia-inh-p13-het.html
- http://tapchiphunu365.blogspot.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét